Vai trò và tầm quan trọng của Phân tích thiết kế hệ thống

Bài này thảo luận về vai trò và tầm quan trọng của môn học Phân tích thiết kế hệ thống thông tin nói chung và Phân tích thiết kế hệ thống ATTT nói riêng. Đây là một số ý kiến tổng hợp được từ một số cuốn sách về Phân tích và thiết kế hệ thống.

- Xây dựng hệ thống thông tin là một hoạt động tổng hợp của các môn học thuộc lĩnh vực Công nghệ thông tin. Hệ thống thông tin tin học là một ứng dụng đầy đủ và toàn diện nhất các thành tựu của CNTT vào một tổ chức
- Xây dựng hệ thống thông tin là một hoạt động trải qua một loạt các giai đoạn để có sản phẩm cuối cùng là một hệ thống thông tin.
- Phân tích và thiết kế là giai đoạn đầu của quá trình phát triển hệ thống thông tin. Nó quyết định đến chất lượng và giá thành của hệ thống.
- Nhờ thiết kế tốt mà các hệ thống thông tin được duy trì hoạt động tốt và phát triển

- Quy mô và mức độ phức tạp của các hệ thống ngày càng tăng, nên phân tích và thiết kế trở thành một yêu cầu bắt buộc để có được một hệ thống tốt. Trong thực tế người ta thấy:

+ Những sai sót trong phân tích và thiết kế làm cho chi phí bảo trì trung bình của các hệ thống thông tin chiếm tới gần 60% tổng chi phí.

+ Có hiện tượng này là vì mức độ chi phí sửa chữa một sai lầm bị bỏ sót qua các giai đoạn phát triển hệ thống tăng lên đáng kể.

+ Một lỗi bị bỏ sót trong giai đoạn phân tích đến khi lập trình và cài đặt mới phát hiện ra thì chi phí sửa chữa tăng lên 40 lần và đến giai đoạn bảo trì mới phát hiện ra thì chi phí sữa chữa tăng lên gấp 90 lần

+ Hơn nữa, nếu thiếu phân tích thiết kế tốt thì rất khó và thậm chí không thể bảo trì được

- Một kỹ sư công nghệ thông tin bất kỳ, không thể không biết đọc các bản vẽ phân tích và thiết kế về hệ thống thông tin. Phân tích và thiết kế hệ thống có những phương pháp riêng và công cụ riêng, cũng như cần có kinh nghiệm nghề nghiệp. Một kỹ sư CNTT cần nhiều năm mới trở thành một nhà phân tích và thiết kế hệ thống

- Để trở thành một nhà phân tích và thiết kế đòi hỏi một người phải có ít nhất những loại kỹ năng sau:

+ Kỹ năng phân tích

+ Kỹ thuật tin học

+ Kỹ năng giao tiếp

+ Kỹ năng về nghiệp vụ và quản lý

Do vậy, môn học phất tích và thiết kế hệ thống là môn học gần như bắt buộc đối với những người làm CNTT để có thể hành nghề tốt

- Note: Một số giáo trình về Phân tích thiết kế hệ thống thông tin để tham khảo
1. Nguyễn Văn Vị, “Giáo trình Phân tích và thiết kế hệ thống thông tin hiện đại”, NXB ĐHQGHN, 2002
2. Nguyễn Văn Ba, “Phân tích thiết kế hệ thống thông tin”, ĐHBKHN, 2000

 

Trích dẫn:
Nguyên văn bởi _VoldemorT_ Xem bài gửi
Theo em được biết thì trường mình có giảng dạy môn Phân tích thiết kế hệ thống ATTT chứ ko dạy Phân tích thiết kế hệ thống thông tin. Như vậy liệu có nhanh quá và SV có bị choáng khi học ko ?
Theo anh để học tốt được môn đó cần chuẩn bị những môn nào cho kĩ ?

- Mình nghĩ khi học môn học PTTKHT ở trường thì có 2 mảng kiến thức cần thiết nhất để học tốt môn này là:
+ Kiến thức về Cơ sở dữ liệu (nhập môn csdl, các hệ quản trị csdl): Trong PTTKHT thường có phần thiết kế CSDL, lúc đó các kiến thức về mô hình thực thể quan hệ, mô hình dữ liệu quan hệ, các dạng chuẩn của quan hệ, phụ thuộc hàm,… rất cần thiết, khi thiết kế csdl vật lý thì kiến thức về các hệ quản trị cở dữ liệu cũng cần thiết
+ Kiến thức về lập trình: Ngôn ngữ lập trình (tư duy lập trình). Khi thiết kế các chức năng, người thiết kế phải nhìn thấy được cách thực hiện nó như thế nào trên NNLT, đặc biệt là giai đoạn lựa chọn một ngôn ngữ để cài đặt chương trình. Hiểu rõ các kỹ thuật lập trình, ưu nhược điểm của các NNLT giúp cho người thiết kế lựa chọn được một NNLT thích hợp để coding
+ Ngoài ra còn một số kiến thức khác của CNTT, cũng như một số kỹ năng khác nữa.
+ Môn học PTTKHT ATTT chắc cũng dựa trên PTTKHTTT nói chung (chẳng hạn như cũng phải tiếp cận theo mô hình thác nước, mô hình làm bản mẫu, mô hình xoắn ốc hoặc mô hình hướng đối tượng)
+ Hiện nay người ta thường tiếp cận PTTKHT theo mô hình hướng đối tượng vì vậy kiến thức về Ngôn ngữ mô hình hóa thống nhất, về RationalRose cũng cần thiết
+ Vì ở trường không học môn phân tích thiết kế, trong giáo trình môn PTTKHT ATTT cũng có đề cập đến những vấn đề này nhưng chắc không sâu, nên phải tìm đọc thêm vậy

(Theo http://www.kmasecurity.net/xforce/showthread.php?t=2693)

Săn việc “mùa thực tập”

Sinh viên nắm lấy cơ hội được tuyển dụng trong kì thực tập

Mơ ước được ngồi phòng máy lạnh, mặc đồ công sở và làm các công việc liên quan đến ngành học đã lâu nhưng chưa có dịp nào được thử sức mình, vì đang là sinh viên, chẳng cơ quan nào dám nhận, Hương mừng lắm khi đến kì thực tập năm cuối. Được phân công về một công ty tài chính, Hương quyết tâm sẽ “chiến đấu” thật tốt.

Vừa làm việc, vừa học hỏi kinh nghiệm của các anh chị trong phòng, Hương tiếp thu và tích luỹ thêm vốn kiến thức còn thiếu của mình. Vì là công ty mới thành lập nên những đồng nghiệp của Hương cũng rất trẻ, tính tình hợp nhau, thế nên dù là sinh viên đi thực tập, Hương được mọi người tôn trọng và chỉ bảo tận tình.

Kết thúc đợt thực tập, Hương bất ngờ nhận được lời hứa hẹn của bác giám đốc, ra trường sẽ được nhận vào làm nếu Hương đồng ý. Đang lo chưa biết xin việc ở đâu, Hương đã thực sự có được cơ hội việc làm của mình. Giờ Hương mới thấy không bõ công vất vả đi sớm về muộn những ngày tháng thực tập.

Làm thêm cho một công ty máy tính đã lâu nhưng vì còn đi học nên Tuấn chỉ làm part-time. Nửa ngày lên lớp, nửa ngày lên công ty, Tuấn cũng nhanh chóng khẳng định được mình và lọt vào tầm ngắm của lãnh đạo. Đến kì thực tập, trong khi bạn bè, kẻ ngược người xuôi đi tìm chỗ tử tế gửi gắm, Tuấn ung dung vào công ty mình thực tập nhưng thực tế là làm việc full-time. Có nhiều thời gian hơn, Tuấn càng chứng tỏ năng lực chuyên môn của mình. Chưa kết thúc đợt thực tập, Tuấn đã yên vị với chức danh nhóm trưởng trong công ty.

Được đánh giá là năng động và thông minh, sinh viên những năm gần đây đang bỏ xa các thế hệ đi trước vì biết chớp thời cơ trở thành ứng viên mọi nơi mọi lúc có thể. Không ít sinh viên coi thực tập là cơ hội đáng quý để chứng tỏ bản thân với các nhà tuyển dụng. Đâu cần chờ tới lúc cầm được tấm bằng tốt nghiệp mới chạy đôn chạy đáo đi kiếm việc làm và rải thảm hồ sơ, sinh viên ngày nay nắm rõ ý đồ và chiến lược tuyển dụng nhân tài của các doanh nghiệp trong cuộc chiến giành giật “chất xám” nên kì thực tập trở thành một trong những con đường ngắn nhất đưa sinh viên đến gần hơn với các doanh nghiệp.

Trong vai trò là người đi học hỏi và nắm bắt kinh nghiệm, sinh viên đã biến mình thành các ứng viên tương lai trong mắt các nhà tuyển dụng. Và cũng không ít người ngay sau đợt thực tập đã trở thành “người” của chính doanh nghiệp mình thực tập.

Thời gian thực tập của sinh viên hiện nay ở các trường đại học và cao đẳng thường là ba tháng trước khi tốt nghiệp. Nhiều trường nhận thức rõ đây là thời điểm quyết định cho sinh viên nên đã có những động thái tích cực tác động trước với các doanh nghiệp nhằm giúp sinh viên có điều kiện để bộc lộ năng lực, phẩm chất và đặc biệt là chuyên môn nghiệp vụ ngành. Các doanh nghiệp hiện nay cũng coi kì thực tập của các sinh viên tại cơ sở của mình là dịp để cho sinh viên thử việc, tuy không phải là nhiều nhưng qua các kì thực tập, biết đâu doanh nghiệp lại có được một nhân tài như mong đợi.

Nói như vậy không có nghĩa là sinh viên nào hiện nay cũng coi trọng vấn đề thực tập. Nhiều người còn cho rằng thực tập cũng chỉ là “đi học” vì vẫn trong sự quản lý của trường đào tạo. Thậm chí có những sinh viên do tâm lý đến thực tập cũng chỉ được làm “chân sai vặt” nên không có sự chuẩn bị kĩ càng như tìm hiều trước công ty, doanh nghiệp nên khi đến thực tập, được giao những công việc chuyên môn như các nhân viên trong cơ quan, sinh viên không tránh được những bỡ ngỡ.

Ngược lại, cũng có những doanh nghiệp không mặn mà lắm với kì thực tập của sinh viên nên nếu không từ chối thì khi nhận sinh viên vào cũng có thái độ thờ ơ, chưa đúng mực dành cho sinh viên khiến họ nhanh chóng chán nản.

Đã đến lúc cả sinh viên, các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp cần nhìn nhận đúng đắn và đầy đủ hơn về vấn đề thực tập của sinh viên Thực tập là khoảng thời gian cần thiết để sinh viên trang bị thêm kiến thức nghiệp vụ và kinh nghiệm làm việc thực tế của mình và cũng là cơ hội để doanh nghiệp tuyển dụng và có thể tuyển dụng thêm nhân tài nếu biết cách tạo điều kiện cho họ.

Theo Võ Hiền

Vieclam.vtv

Những vấn đề về tuyển dụng nhân sự của các công ty Công nghệ Thông tin lớn

Ngày nay, những sinh viên mới ra trường và những người khó tìm việc trong giới Công nghệ Thông tin thường nói về việc được tuyển vào làm cho những tập đoàn tên tuổi khổng lồ trong IT như Microsoft, IBM, Oracle, Google, Yahoo, Cisco … như là giấc mơ một đời người.

Báo chí và những bài viết đần độn dành cho thông tin đại chúng đã làm cho những cuộc phỏng vấn vào các công ty lớn kể trên như là những cuộc phiêu lưu thú vị đầy những khó khăn, thử thách tuyệt vời về tư duy dành cho những lập trình viên trẻ tuổi, thiên tài và nhiều tham vọng.

Nhưng thực tế không phải toàn là màu hồng như những hình ảnh PR do các công ty đó và các tạp chí tay sai của họ cùng bọn bồi bút tạo nên. Thực ra việc tuyển dụng nhân sự vào các công ty khổng lồ có nhiều vấn đề nực cười và lố bịch hơn nhiều so với những hình ảnh họ cố gắng trưng bày ra trước công chúng.

Sau đây là một vài vấn đề chính.

1) Hiệu ứng “hàng hiệu”

Các bạn có thể thấy là những nhà sáng lập chính của các công ty IT thành công lớn trên thế giới như Bill Gates, Larry Ellison, Larry Page, Sergey Brin, Michael Dell … là những người không có bằng cấp gì cho ra hồn người, nếu không bỏ học Đại học thì cũng bỏ làm Tiến sĩ.

Nhưng ít ai để ý là những người này đều là “hàng hiệu”, nghĩa là ít nhất cũng đặt chân vào cổng trường những trường danh giá, ví dụ như Bill Gates từng đánh poker ở Harvard, còn Larry Page và Sergey Brin thì đã từng ngồi tễu ngắm gái trên ghế đá Đại học Standford, cùng nhau chỉ trỏ bàn tán thô bỉ.

Ngoài ra, các công ty lớn thường nhận được hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn hồ sơ xin việc mỗi ngày. Do đó, bất kể những gì mà họ rêu rao trước công chúng về chuyện “Khả năng quan trọng hơn bằng cấp”, “Chúng tôi không tuyển chọn mọt sách mà tuyển chọn nhân tài” …, nếu các bạn không tốt nghiệp hoặc đang học tại một trong những trường Đại học hàng đầu thế giới như Standford, MIT, Berkeley, Carnegie Melon …, thì khả năng hồ sơ xin việc của các bạn được quẳng vào sọt rác trước khi có ai đó đọc tới dòng thứ hai là rất gần với 101%.

Cái này gọi là “Brand name effect”, hay còn gọi là “Hiệu ứng sành điệu”.

2) Hiệu ứng vực xoáy (Spiral effect)

Bất kể các khẩu hiệu về chuyện “tuyển chọn nhân tài”, hoặc “công ty chúng tôi chỉ dành cho những người giỏi nhất”, công ty lớn là công ty lớn, và trong môi trường đó, bao giờ cũng có cạnh tranh. Mà một trong những cạnh tranh lớn nhất, khốc liệt nhất là “job security”.

Bây giờ không phải là những năm 80 của thế kỷ 20, khi mà lập trình viên như sao buổi sớm, quản trị mạng như lá mùa thu. Bây giờ bất kỳ con gián nào biết phân biệt phím Enter và ESC cũng có thể làm quản trị mạng, và bất kể ông kễnh bốc phét nào biết phân biệt “include <stdio.h>” và “import java.swing.*” cũng có thể vỗ ngực làm lập trình viên.

Vì thế tìm được việc làm trong ngành Công nghệ Thông tin đã khó, giữ được việc làm còn khó hơn. Nhất là những chỗ làm an nhàn, quyền lợi béo mà hầu như chả phải làm gì, đại khái như các vị trí management trong các công ty lớn. Và chính các vị làm ở các vị trí management này và các cộng sự của họ sẽ phỏng vấn về kỹ thuật và công nghệ để tuyển nhân viên mới.

Tất nhiên là họ không tuyển những thằng ngu, vì như thế thì không có ai làm tay sai cho họ, làm ra “tiền tươi, thóc thật”, trong khi họ chỉ ngồi mát ăn bát vàng. Mặt khác, họ cũng không tuyển những thiên tài có khả năng đe dọa chiếc ghế của họ đang ngồi.

Vì thế, khởi đầu, công ty có thể là một tập hợp những người rất giỏi, có quyền lợi gắn bó với sự thành công và thất bại của công ty. Nhưng khi công ty bắt đầu lớn lên, các vị trí management chỉ là những người làm thuê, người làm thuê đầu tiên sẽ tuyển những người kém hơn mình một tí, rồi đến lượt những người kia lại tuyển những người khác kém hơn mình một tí nữa … và cứ thế … cứ thế … vực xoáy cứ càng ngày càng sâu … thế mới gọi là spiral effect.

Vì thế, ngày nay việc vượt qua vòng phỏng vấn kỹ thuật của các công ty lớn không phải là chuyện bạn có thực sự giỏi hay không, mà là bạn phải có “a right amount of stupidity”, nghĩa là phải ngu xuẩn một cách đúng mức. Hoặc bạn phải là một diễn viên kịch nghệ xuất sắc kiêm lập trình viên siêu đẳng, để biết cách trả lời hoàn hảo một vài câu hỏi, trả lời đến mức 95% hoặc 97% cho một vài câu hỏi khác, và giả vờ fail một số câu hỏi đơn giản, để người phỏng vấn thấy rằng bạn không đe dọa chiếc ghế của họ.

Nếu bạn quá ngu xuẩn, thì tất nhiên là chả ai thèm tuyển bạn. Nhưng nếu bạn tỏ ra giỏi hơn những người đang phỏng vấn bạn, hoặc trả lời các câu hỏi một cách quá trôi chảy, hoàn hảo thì hãy coi chừng. Khả năng mà bạn bị từ chối tuyển dụng cũng sẽ rất gần với 101 %.

3) Hiệu ứng con khỉ (Monkey sees, monkey does)

Vào thời gian mới bắt đầu khởi nghiệp, các chuyên gia của Microsoft thường có cách phỏng vấn độc đáo là hỏi những câu hỏi ít liên quan, hoặc không liên quan tới Computer Science, nhằm mục đích loại trừ các con mọt sách, và thử xem các ứng viên có khả năng tư duy sáng tạo hay không.

Ví dụ như họ có thể hỏi: “Tại sao nắp cống có hình tròn?”, hoặc “Có 3 công tắc ở trong một phòng, và có 3 bóng đèn ứng với 3 công tắc đó trong một phòng khác. Từ trong phòng này không thể nhìn thấy phòng kia. Làm thế nào để chỉ cần 1 lần đi từ phòng này sang phòng kia, bạn có thể biết được công tắc nào ứng với bóng đèn nào?”.

Tất cả có vẻ tốt. Nhưng sau này, các công ty Công nghệ đã lạm dụng lối hỏi này, và thậm chí cứ hỏi một cách ngớ ngẩn, và chả hiểu tại sao lại làm thế.

Ví dụ có một người hỏi một ứng viên thế này: “Có bao nhiêu cây xăng ở bang Massachusetts?”
Ứng viên trả lời: “Có 5000 cây xăng.”
Người phỏng vấn hỏi: “Tại sao lại 5000?”.
Ứng viên trả lời: “Tất nhiên là thằng ngu nào cũng biết là khi hỏi câu này, người ta sẽ chờ đợi là ứng viên sẽ phân tích xem trung bình một người dùng một tuần bao nhiêu xăng, đổ xăng bao nhiều lần, rồi vùng này có bao nhiêu người …, từ đó suy ra có bao nhiêu cây xăng. Nhưng sự thực là cuộc sống khác với xác suất thống kê trên giấy, nên ông hãy trả lời tôi câu này: Ông thuê tôi vào để lập trình, hay là để hack vào database quản lý xăng dầu của chính quyền bang?, rồi tôi sẽ trả lời nghiêm chỉnh câu hỏi của ông.

Ngoài ra, làm sao ông có thể chứng minh được là không phải là có 5000 cây xăng, mà chỉ có 3000 chẳng hạn? Hoặc việc suy ra là có 5000 cây xăng thì liên quan gì đến việc người trả lời có phải là một lập trình viên giỏi hay không?”

Tóm lại là nhân viên phỏng vấn của các công ty lớn hiện nay chỉ thi đua nhau xem ai đưa ra nhiều câu hỏi ngu xuẩn và ngớ ngẩn hơn, chứ không phải là tập trung vào việc tìm lập trình viên giỏi. Thấy Microsoft làm thế, họ cũng làm thế. Monkey sees, monkey does.
Đó là chưa kể là trong các trường Đại học tại Mỹ hiện nay, sinh viên thi nhau thu thập, in và chuyền tay nhau những bản hỏi-đáp của những câu hỏi phỏng vấn như vậy, gọi là “Cẩm nang Microsoft” hay “Những câu hỏi phỏng vấn ngu xuẩn nhất thế kỷ 20″. (không có thế kỷ 21, vì về mặt cơ bản là các phỏng vấn hiện nay cũng chả có câu hỏi nào mới hơn các câu hỏi của Microsoft từ thế kỷ trước).

Do đó, ý nghĩa của việc hỏi những câu hỏi nhằm kiểm tra tính suy luận “ngu” cũng giảm đi rất nhiều, và khoa học đã chỉ ra rằng chả có gì chứng tỏ khả năng trả lời những câu hỏi “dở hơi biết bơi” lại có liên quan đến khả năng lập trình hay phát minh, sáng tạo.

Vì vậy, các bạn trẻ có ý định tìm việc làm trong ngành Công nghệ Thông tin hãy thực tế hơn một chút.

Nếu các bạn thực sự giỏi, có khả năng sáng tạo cao, thì nên tìm môi trường start-up. Ở đó cơ hội để các bạn trở thành triệu phú hoặc tỷ phú nhiều hơn, và ít có thói quan liêu, lừa lọc lẫn nhau, ghen tỵ, tranh giành, đấu đá hơn.

Các bạn có thể thấy là các ngôi sao của ngành Công nghệ Thông tin như Yukihiro Matsumoto, David Hainemeier Hansson, Torvalds Linux, Martin Fowler, Bruce Tate, Justin Gehtland, David Black, Zed Shaw … chả có ai đi làm thuê cho bọn địa chủ, cường hào ác bá hết, mà chỉ tự làm hoặc làm cho các công ty nhỏ.

Tuy nhiên nếu bạn chỉ có một trình độ tầm tầm, tốt nghiệp một trường hàng hiệu, có một “giấc mơ con” sắp sửa “đè nát cuộc đời con” là kiếm một đồng lương 6 chữ số USD hàng năm, vỗ ngực xưng tên với các nhãn hiệu lớn, giải quyết khâu oai, thì nên học thêm một lớp “diễn viên điện ảnh” và cố gắng luyện để biết thế nào là “a right amount of stupidity”.

Làm thuê cho công ty lớn cũng chả có gì xấu, có khi cũng hay, trừ thói quan liêu cửa quyền của bọn nhân sự và nguy cơ biến thành một cái đinh ốc trong một cỗ máy lớn, năm này qua năm khác làm đi làm lại công việc của một cái đinh ốc hay một cái bánh răng.

“Coding” – Nghề của những áp lực

Là kỹ sư công nghệ thông tin, bạn phải làm quen với cảm giác bất lực và bực bội khi nhìn chăm chăm vào màn hình, sục sạo hàng trăm dòng code cả tuần để tìm lỗi mà nhiều khi chỉ là một dấu chấm, dấu phẩy…

Lập trình viên (LTV) được ví là những thợ “coding” (người ngồi gõ những đoạn mã trên máy tính), làm ra các phần mềm hoặc chỉnh sửa, phát triển nó dựa trên các công cụ lập trình. Nói một cách khác, LTV có vẻ giống một nhân viên nhập dữ liệu đơn thuần, ngày ngày đến công sở gõ những dòng code theo chỉ dẫn. Theo đó, lập trình là một công việc khá buồn tẻ, thuần túy kỹ thuật, không đòi hỏi sự sáng tạo và đúng nghĩa là high- tech.

Do đó, nếu dự định theo nghề LTV, bạn phải rèn luyện cho mình khả năng sống chung với các áp lực deadline và khối lượng công việc. Đa số các dự án phần mềm hiện nay vẫn bị mắc tỉ lệ 80-20. Có nghĩa là trong 80% thời gian đầu của dự án thường chỉ làm được 20% khối lượng công việc, và 20% thời gian còn lại thì phải giải quyết nốt 80% khối lượng công việc. Ông Vincent Quyền, GĐ Cty phần mềm Contour (Nhật) cho biết: Thức trắng hàng tuần để chạy theo tiến độ là không tránh khỏi.

Tuy vậy, nhiều LTV vẫn chưa đánh giá hết tầm quan trọng của việc lập kế hoạch chi tiết và triển khai dự án từ ngày đầu tiên. Trung Hiếu – một LTV vừa vượt qua vòng bảo vệ project nhớ lại: “Thời gian đầu mọi việc chạy đều, nhưng lúc gần hoàn thiện thì bắt đầu phát sinh đủ thứ, càng về cuối càng thấy khối lượng công việc khủng khiếp. Trước kia nghe nói chuyện “lụt dự án”, giờ mới nếm mùi”. Ngoài ra, bạn phải làm quen với cảm giác bất lực và bực bội khi phải nhìn chăm chăm vào màn hình vi tính, sục sạo hàng trăm dòng code cả tuần và kết quả tìm ra lỗi nằm ở việc thiếu một ký tự như dấu chấm, dấu phẩy.

Ngược với những áp lực trên, LTVcó mức thu nhập khá (một LTV mới vào nghề khoảng 200 USD/tháng, có 3- 4 năm kinh nghiệm hoặc làm ở vị trí quản lý sẽ có thu nhập khoảng 700 – 1.000 USD/tháng. Nếu làm ở nước ngoài thu nhập sẽ cao hơn nhiều) và có những khoảng tự do. Trong các dự án, trưởng nhóm chỉ định phần công việc và thời gian cần hoàn thành, còn lại LTV chủ động tìm giải pháp hoàn thành công việc. Nghĩa là có thể đến công sở vài lần trong một tuần miễn là hoàn thành công việc được giao. Như vậy, nếu biết cân bằng và sắp xếp khoa học công việc, LTV có thể bỏ qua được những áp lực nặng nề.

Đồng thời, từ công việc lập trình, các LTV hoàn toàn có cơ hội thử sức ở những vị trí khác hấp dẫn hơn như tham gia nhiều dự án lớn, thu thập được kỹ năng và kinh nghiệm chuyên môn và có kiến thức quản lý thì một LTV có thể thăng tiến lên vị trí trưởng nhóm, giám đốc dự án hoặc mở Cty riêng. LTV cũng có điều kiện làm việc ở nhiều nước như Mỹ, Nhật… trong những dự án của công ty gia công phần mềm cho nước ngoài. Hoặc họ có thể ngồi ở Việt Nam nhưng lại làm việc trong một nhóm nhiều chuyên gia trên thế giới.

Quan trọng là bạn phải sẵn sàng đối diện với những áp lực và cơ hội nếu muốn theo đuổi nghề này.

Nguồn : http://my.opera.com/huyhung.hanu/blog/2007/12/11/coding-nghe-cua-nhung-ap-luc

Ngành công nghệ thông tin dưới góc độ hướng nghiệp

Trích một phần từ : http://www.ddth.com/showthread.php?t=28768

Thi đậu vào CNTT đã khó, theo học được CNTT sau này ra trường có được việc làm đúng với bằng cấp và chuyên môn đã đào tạo lại càng khó hơn. Vậy CNTT đòi hỏi những nǎng lực tâm lý, những phẩm chất gì và mức độ ra sao?

Về nǎng lực cá nhân, thứ nhất, người học phải có độ bền vững chú ý cao khi lao động trí óc biểu hiện là có khả nǎng ngồi học hay làm việc với máy vi tính lâu dài mà ít mệt mỏi, ít sai sót, thứ hai, người học phải có khả nǎng tư duy logic tốt nghĩa là từ những giả thiết ban đầu cho ra những ý tưởng đúng đắn, chính xác và chặt chẽ, khả nǎng này cũng tương thích với khả nǎng toán học, thứ ba, người học phải có trí nhớ tốt bao gồm trí nhớ ngắn hạn, khả nǎng tái hiện trí nhớ và phải có phương pháp ghi nhớ khoa học, thứ tư, người học phải có trí sáng tạo và tưởng tượng phong phú để hiểu và hình dung ra được những đối tượng mà mình nghiên cứu thường là những khái niệm trừu tượng, những lưu đồ biểu diễn những tổ hợp lệnh cực kỳ phức tạp với nhiều khả nǎng logic xảy ra, thứ nǎm, người học phải có khả nǎng và thói quen nghiên cứu khoa học đọc sách báo, tài liệu trong nước và ngoài nước để giải quyết những khó khǎn phát sinh trong công việc.
Về tính cách, người học phải có lòng say mê, đức tính kiên nhẫn ham học hỏi, có quan hệ giao tiếp và ứng xử tốt với đồng nghiệp.

CNTT đòi hỏi rất cao về nǎng lực và tâm tính bởi lẽ sản phẩm của nó có hàm lượng chất xám rất cao, ngoài những đặc điểm của các sản phẩm công nghệ truyền thống nó còn có những đặc điểm khác là từ một sản phẩm có thể nhân bản, có thể sử dụng cùng một lúc nhiều nơi trên thế giới, không bị hao mòn và hư hỏng trong quá trình sử dụng, nó chỉ trở nên lạc hậu và được thay thế bởi một phiên bản khác cao cấp hơn. Khi vận hành các máy móc thông thường ta có thể sử dụng các giác quan của mình để tri giác, còn trong CNTT con người không thể tri giác trực tiếp mà phải dùng đến trí tưởng tượng kết hợp với khả nǎng tư duy logic để phán đoán và xử lý trong khi vận hành.

Một số sinh viên CNTT đang học hay đã ra trường đến phòng trắc nghiệm hướng nghiệp để tìm hiểu nǎng lực cá nhân. Kết quả trắc nghiệm cho thấy phần lớn các em đã chọn nghề chưa phù hợp với nǎng lực và tính cách của mình. Tùy theo hoàn cảnh cụ thể những giải pháp có thể lựa chọn: trước hết phải xem xét lại phương pháp, thời gian học tập đã đáp ứng với yêu cầu của môn học hay chưa, đối chiếu với các sinh viên khá giỏi trong lớp để khắc phục hậu quả. Với những SV sắp ra trường nên chọn cho mình một chuyên ngành hẹp phù hợp với nǎng lực sở thích, tập trung thời gian, công sức đầu tư cho chuyên ngành đó, không nên dàn trải đều hậu quả là cái gì cũng biết nhưng biết không đến nơi đến chốn và sau khi ra trường sẽ không có được một nghề theo đúng nghĩa của nó. Với những sinh viên quá yếu thì nên chuyển bậc đào tạo cho phù hợp hay chuyển sang một ngành khoa học kỹ thuật khác có sử dụng trực tiếp CNTT để khỏi lãng phí thời gian và công sức đã học.

Hiện nay có một số học sinh yêu thích CNTT, có điều kiện kinh tế đã đǎng ký và đóng tiền theo học các khóa CNTT do các trung tâm hay các doanh nghiệp tư nhân mở, học phí rất cao, các em hy vọng sẽ có một nghề theo như nội dung quảng cáo. Các em đã nhầm lẫn: học phí cao góp phần cho các em môi trường học tập tốt, nó không thể khắc phục được sự yếu kém về học lực và nǎng lực cá nhân như đã trình bày ở trên.

Các lĩnh vực công việc trong ngành IT

Cac linh vuc cong viec trong nganh IT

Có rất nhiều loại hình công việc trong ngành công nghệ thông tin: từ lập trình viên, nhân viên kinh doanh đến thiết kế web… tùy thuộc vào các điểm mạnh và sự yêu thích mà bạn có thể tìm được cho mình vai trò phụ hợp.

Sau đây là một vài lựa chọn tiêu biểu:

- Nhân viên phân tích dữ liệu

- Quản trị hệ thống

- Lập trình viên

- Kỹ sư phần mềm

- Nhân viên phân tích hệ thống

- Chuyên viên hỗ trợ kỹ thuật/ người sử dụng cuối cùng

- Thiết kế web/ dịch vụ Internet

1. Nhân viên phân tích dữ liệu

Nhiệm vụ:

- Làm việc cho các công ty phần mềm, công ty tư vấn, công ty ứng dụng công nghệ thông tin thuộc các ngành nghề khác nhau

- Thảo luận về các nhu cầu ứng dụng công nghệ thông tin trong doanh nghiệp với các nhân viên nội bộ hay các khách hàng.

- Thu thập và sắp xếp các dữ liệu thích hợp khi xây dựng cơ sở dữ liệu và tiến hành các nghiên cứu liên quan.

- Sử dụng các hệ thống cơ sở dữ liệu/công nghệ thông tin để tạo ra các báo cáo và hỗ trợ trong công việc phân tích, marketing, chuẩn bị và tạo các chương trình giới thiệu sản phẩm.

- Giám sát và duy trì chất lượng hệ thống cơ sỡ dữ liệu cũng như tính bảo mật khi cập nhật và sử dụng

Kỹ năng chính cần có:

- Khả năng phân tích và tư duy lô gíc

- Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ viết và nói

- Tinh thần làm việc đồng đội và sáng kiến

- Hoàn thành các mục tiêu công việc đúng hạn

- Khả năng tính toán

- Ý thức kinh doanh

- Các kiến thức về hệ thống cơ sở dữ liệu.

Huấn luyện:

- Các công ty lớn đều tổ chức các khóa huấn luyện cho tất cả các vị trí từ hỗ trợ kỹ thuật, tiếp thị, đến quản trị cơ sở dữ liệu hay phát triển phần mềm.

- Chương trình huấn luyện này là rất cần thiết đối với việc lưu trữ hệ thống cơ sở dữ liệu và sử dụng các kỹ năng lập trình như ORACLE and SQL. Sau khi các nhân viên đã có kinh nghiệm làm việc tập thể trong các dự án, họ sẽ có cơ hội thành những người lãnh đạo dự án.

2. Nhân viên kinh doanh

Nhiệm vụ:

- Làm việc cho các nhà sản xuất, công ty dịch vụ phần mềm

- Có trách đối với một sản phẩm hay khách hàng cụ thể

- Giới thiệu sản phẩm đến khách hàng

- Tiếp tục liên hệ với khách hàng và trả lời các thắc mắc

- Liên hệ với các phòng ban về chi tiết của đơn hàng khi ký hợp đồng

- Liên hệ với bộ phận marketing để tìm kiếm khách hàng mới và báo cáo các phản hồi của khách hàng nhằm nâng cao sản phẩm

- Thông tin cho các khách hàng hiện thời về sản phẩm mới

Kỹ năng chính cần có:

- Kỹ năng giao tiếp và trình bày thành thạo

- Khả năng thuyết phục và nhạy bén

- Ý thức và động cơ kinh doanh

- Linh hoạt, năng động và giỏi tính toán

Huấn luyện:

Khi mới bắt đầu, các nhân viên kinh doanh sẽ được tham gia các khóa huấn luyện ngắn giới thiệu về sản phẩm, kỹ năng bán hàng và giao tiếp. Một vài nhân viên sẽ được huấn luyện chuyên sâu về kỹ thuật nếu đối tượng của sản phẩm là các chuyên gia công nghệ thông tin.

3. Quản trị hệ thống

Nhiệm vụ:

- Làm việc cho các công ty quản lý thiết bị, chịu trách nhiệm vận hành các thiết bị công nghệ thông tin cho khách hàng

- Duy trì sự ổn định của hệ thống

- Tuyển dụng, huấn luyện và quản lý đội ngũ làm việc, từ nhân viên nhập dữ liệu đến nhân viên vận hành, lập trình viên…

- Bảo trì và cập nhật hệ thống khi cần thiết

- Thương lượng với khách hàng

- Xem xét số lượng người sử dụng hệ thống, liệu có cần cải tiến để đáp ứng nhu cầu không

Kỹ năng chính:

- Kỹ năng quản lý tổng hợp

- Kỹ năng sáng tạo dựa trên các ý tưởng kinh doanh

- Khả năng chọn lực, thúc đẩy và đánh giá nhân viên làm việc

- Kỹ năng quản lý tài chính và thời gian

Huấn luyện:

Các nhà quản trị hệ thống thường bắt đầu với công việc của một lập trình viên, sau đó là, thiết kế, phân tích hệ thống, quản trị mang và quản lý cấp bộ phận.Họ có thể trở thành những nhà quản lý hay giám đốc công nghệ thông tin.

4. Lập trình viên hệ thống

Nhiệm vụ:

- Làm việc cho bộ phận tin học của các công ty lớn, công ty tư vấn phần mềm, các nhà sản xuất điện tử và phần mềm

- Viết các phần mềm ví dụ như hệ điều hành hay các ngôn ngữ cấp thấp tạo tiền đề cho máy tính triển khai các ứng dụng ở ngôn ngữ cao hơn hay chuyển thông tin đến các thiết bị khác.

- Tùy chỉnh hệ thống để thực hiện các chức năng khác nhau

- Tìm và phát hiện các lỗi trong phần mềm

- Chạy thử các chương trình để kiểm tra khả năng thích ứng khi đưa vào thực tế

- Chuẩn bị các tài liệu mô tả phương thức hoạt động của phần mềm.

Kỹ năng chính:

- Khả năng phân tích và suy luận logic

- Chú ý đến từng chi tiết

- Hoàn thành công việc đúng hạn

- Thành thạo các kỹ năng giao tiếp nói và viết

- Kỹ năng tính toán

- Kiến thức về một hệ thống máy tính cụ thể.

Huấn luyện:

Các công ty lớn thường tổ chức khóa huấn luyện 6 tuần cho các nhân viên trong năm đầu tiên trong ty các công ty nhỏ khuyến khích tinh thần tự học.

5. Kỹ sư phần mềm

Nhiệm vụ:

- Làm việc chủ yếu cho các công ty điện tử và viễn thông; nhiệm vụ cũng tương tự như lập trình viên, tuy nhiên tập trung hơn vào các ứng dụng kỹ thuật và thiết kế

- Sử dụng ngôn ngữ máy tính để viết các chương trình phục vụ cho công việc

- Sử dụng các công cụ hay hệ thống tiền thiết kế để viết ra các phần mềm

- Tích hợp các chương trình được tạo, tìm và phát hiện lỗi

- Chạy thử chương trình

- Hoàn thành các tài liệu mô tả hoạt động của phần mềm

Kỹ năng chính:

- Khả năng phân tích và suy nghĩ logic

- Kỹ năng làm việc tập thể

- Thành thạo các kỹ năng giao tiếp nói và viết

- Chú ý đến từng chi tiết

- Khả năng hoàn thành công việc đúng hạn.

Huấn luyện:

Công việc này đòi hỏi bằng cấp chuyên môn về công nghệ thông tin hay lãnh vực liên quan. Các công ty lớn thường tổ chức khóa huấn luyện 6 tuần cho các nhân viên trong năm đầu tiên trong ty các công ty nhỏ khuyến khích tinh thần tự học.

6. Nhân viên phân tích hệ thống

Nhiệm vụ:

- Gặp gỡ trưởng dự án và khách hàng để thảo luận về dự án

- Thảo luận dự án chi tiết với nhân viên của khách hàng và thiết lập tính khả thi của dự án

- Chuẩn bị các lưu đồ hệ thống, quyết định phần có thể được tin học hóa trong hệ thống

- Đánh giá các phần cứng được yêu cầu khi triển khai hệ thống (tốc độ, chi phí, dung lượng bộ nhớ…)

- Liên lạc với các lập trình viên, phân công công việc và giám sát quá trình sản xuất phần mềm

- Xem xét để thay đổi nếu hệ thống khi chạy thử không đáp ứng được yêu cầu

- Có thể phân tích hệ thống kinh doanh và cân nhắc các biện pháp rút giảm chi phí

Kỹ năng chính:

- Khả năng phân tích và giải quyết vấn đề

- Kỹ năng giao tiếp thành thạo (đặc biệt với khách hàng)

- Thành thạo các kỹ năng giao tiếp nói và viết

- Ý thức kinh doanh và quản lý thời gian

Huấn luyện:

Một số công ty tuyển dụng các sinh viên đã được huấn luyện về phân tích hệ thống trong quá trình học đại học. Hầu hết các nhân viên đều bắt đầu ở vị trí lập trình viên ->lập trình viên phân tích -> nhân viên phân tích hệ thống.

7. Chuyên viên hỗ trợ kỹ thuật / Người sử dụng cuối cùng

Nhiệm vụ:

- Làm việc cho các nhà cung cấp phần mềm và phần cứng tại văn phòng của người sử dụng cuối cùng

- Cung cấp các hỗ trợ kỹ thuật cho khách hàng/người sử dụng hiện thời

- Ghi nhận các cuộc gọi và các vấn đề trục trặc xảy ra

- Liên hệ với các bộ phận cần thiết để giải quyết vấn đề

- Tổng kết các sản phẩm và thủ tục

- Lập kế hoạch cải tiến

- Cập nhật quá trình phát triển sản phẩm mới và khuyến khích khách hàng nâng cấp sản phẩm

Kỹ năng chính:

- Khả năng lắng nghe

- Khả năng phân tích và giải quyết vấn đề

- Khả năng ngoại giao

- Kỹ năng nói và viết thành tạo

- Linh hoạt

Huấn luyện:

Các nhân viên mới sẽ được huấn luyện về đặc tính kỹ thuật của sản phẩm và cách thức phục vụ khách hàng. Đối với các công ty lớn, khóa học được làm phong phú hơn bằng cách giảng dạy về phương thức phát triển và cung ứng sản phẩm.

8. Thiết kế web/dịch vụ Internet

Nhiệm vụ:

- Làm việc cho các nhà sản xuất phần mềm, công ty tư vấn thiết kế web hay các công ty lớn

- Tổng kết các lựa chọn và yêu cầu của khách hàng về website

- Thiết kế và tạo các trang web, liên kết

- Thử nghiệm thiết kế

- Cài đặt trực tuyến phiên bản cuối cùng và hỗ trợ kỹ thuật cho khách hàng

- Cập nhật các tiến bộ mới nhất trong lãnh vực thiết kế web

- Đề ra các kế hoạch cải tiến

Kỹ năng chính:

- Kỹ năng phân tích và giải quyết vấn đề

- Kiến thức về các hệ thống và ngôn ngữ lập trình liên quan, khả năng học hỏi

- Kỹ năng nói và viết

- Kỹ năng tưởng tượng và trình bày

- Kỹ năng quản lý thời gian

- Kỹ năng làm việc tập thể

Huấn luyện:

Các công ty lớn thường tổ chức khóa huấn luyện kỹ thuật cho nhân viên, trang bị các kỹ năng nền tảng. Các công ty nhỏ, ngược lại đòi hỏi nhân viên tự học hỏi các kiến thức về một số ngôn ngữ lập trình như Java, Visual Basis thông qua quá trình làm việc.

Theo HRVietnam/Tech-centric

Người làm IT cần kỹ năng gì?

Kỹ sư phần mềm, kỹ sư hệ thống, quản trị dự án, quản trị mạng, lập trình viên, kiểm soát chất lượng, tư vấn công nghệ, chuyên gia test… là những công việc cụ thể trong lĩnh vực IT.

Những yêu cầu cơ bản với những bạn muốn làm việc trong ngành IT đó là: Trình độ chuyên môn về CNTT; có tinh thần học hỏi; có nhiệt huyết và trách nhiệm trong công việc; năng động và sáng tạo; và có khả năng chịu đựng sức ép trong công việc cao.

Công nghệ thông tin là một môi trường đầy thách thức do công nghệ liên tục đổi mới, do vậy, ngoài những yêu cầu trên, một nhân viên IT cần thích ứng cao với sự thay đổi, có tư duy logic và quan trọng hơn cả, là kiến thức thực hành thật nhiều. Khả năng làm việc nhóm cũng là một kỹ năng mềm không thể thiếu của một nhân viên IT.

Quan niệm trước đây là một nhân viên IT không cần giỏi ngoại ngữ và khả năng giao tiếp không cần quá chú trọng đã trở nên lỗi thời. Với xu thế hiện nay, giao tiếp tốt và thành thạo một ngoại ngữ là ưu thế đối với tất cả những bạn đang theo đuổi nghề này.

Kiến thức tốt về công nghệ có thể là lợi thế, nhưng bạn không thể trở thành một nhân viên IT cứng trong công ty nếu bạn không thể phân tính hay trình bày am hiểu của bạn trong công việc, đánh giá các vấn đề liên quan đến khách hàng và xu hướng phát triển của công việc.

Sự đào thải trong công việc của ngành này cũng rất cao nếu bạn không liên tục làm mới mình trước những nhà quản lý, và trước chính những vấn đề công nghệ phục vụ cho công việc. Xu thế outsource những mảng công việc IT tại các công ty không còn là vấn đề mới mẻ. Vì thế, các bạn làm việc trong ngành này cần sự nỗ lực lớn để khẳng định giá trị của mình.

Nguồn : http://my.opera.com/huyhung.hanu/blog/show.dml/1428354

Lời khuyên cho “dân IT” – Khi tìm việc

Dành cho những bạn sắp ra trường
1/ Bằng cấp và bảng điểm không phải là yếu tố quyết định. Nhà tuyển dụng (NTD) có các chuyên gia giỏi của lĩnh vực bạn có bằng cấp, nếu bạn kém cỏi thì chỉ 5 giây họ sẽ quay ra tò mò làm sao bạn lại có được chứng chỉ này.

Quy tắc số 1: phải trau dồi kiến thức để có bản lĩnh thực chất, có khả năng đáp ứng yêu cầu công việc trong thực tế, bằng cấp chỉ là yếu tố phụ.

2/ Tìm hiểu rõ nhà tuyển dụng cần gì ở bạn? Nói vui một chút, là bạn “có hoặc sẽ có” khả năng gì mà họ có thể “lợi dụng”. NTD sẽ tìm cách hỏi bạn nhưng kiến thức và kỹ năng mà họ cần bạn có. Nếu bạn có thì trả lời là có, nếu bạn chưa có kiến thức đó, hãy cho NTD thấy bạn đã hiểu nguyên lý của vấn đề, chỉ cần tập trung đầu tư thời gian, bạn sẽ trở thành người giỏi.

Quy tắc số 2: lấy khả năng tiếp cận nhanh kiến thức mà NTD cần để khắc phục sự khiếm khuyết kiến thức hiện tại của mình.

Ví dụ: NTD yêu cầu bạn trình bày về một hệ điều hành X mà bạn chưa sử dụng nó bao giờ (hoặc mới chỉ nghe loáng thoáng), bạn hãy bình tĩnh nói họ của HĐH X đó (thuộc họ Unix hay Windows), nói về vài nhận xét của bạn về nó. Bạn hãy tự tin nói cho NTD biết là bạn sẽ mất bao lâu để có thể làm việc với hệ điều hành X như họ yêu cầu (bởi ước lượng chính xác thời gian tiếp cận công nghệ cũng là một tiêu chí để đánh giá ứng viên của các NTD trong lĩnh vực IT).

3/ Tỉnh táo trước những câu hỏi lạ! Khi gặp những câu hỏi lạ không liên quan đến kỹ thuật hãy dành một chút thời gian tìm hiểu mục đích của câu hỏi trước khi trả lời. Bạn có thể yêu cầu NTD cho bạn 1 phút để suy nghĩ hoặc tìm kế hoãn binh để đoán ra ý đồ của NTD.

Quy tắc số 3: Đừng vội vàng trả lời ngay những câu hỏi lạ.

Ví dụ: NTD hỏi bạn là nếu đang đi một con thuyền, trên thuyền có một tảng đá và bạn vứt tảng đá đó xuống hồ. Hỏi: nước trong hồ dâng lên hay hạ xuống?. Xin chú ý, NTD không quan tâm câu trả lời là dâng lên hay hạ xuống, mà họ chỉ muốn kiểm tra khả năng tìm hiểu các yêu cầu để giải quyết vấn đề của bạn. Một ứng viên tốt sẽ hỏi lại rất nhiều câu hỏi (hỏi càng hay càng được đánh giá cao) như: hồ có to không? tảng đá có to không? nước trong hồ là mặn hay ngọt… trước khi đưa ra kết luận.

4/ Khả năng nghiên cứu bằng tiếng Anh! Lĩnh vực IT rất cần khả năng này, ít nhất bạn phải có khả năng đọc hiểu tài liệu kỹ thuật tiếng Anh. Hãy nói thẳng với NTD về khả năng tiếng Anh của bạn (nếu bạn không nghe/nói được, điều này ít quan trọng hơn đọc/hiểu).

Quy tắc số 4: bạn phải là người có thể nghiên cứu tốt bằng tài liệu tiếng Anh

5/ Tự tin có cơ sở! Đừng ngại “sửa lưng” NTD, nếu bạn nắm rõ vấn đề hãy mạnh dạn tương tác với NTD. Những NTD cởi mở sẽ rất thích các ứng viên có quan điểm mạnh, tư tin và vững vàng trong trình bày! (Rất cần thiết nhưng không nên lạm dụng một cách thái quá sẽ “hiệu quả ngược”.)
Quy tắc số 5: hãy khác biệt và tự tin.

Ví dụ: bạn không cần đợi đến đợt phỏng vấn mới nộp hồ sơ, hãy mạnh dạn tương tác và đề xuất trực tiếp với NTD, bạn sẽ nhận được những kết quả hết sức thú vị.

6/ Hồ sơ xin việc rõ ràng và sáng sủa (sự cẩu thả trong chuẩn bị hồ sơ tạo ấn tượng rất xấu vì làm giảm bớt sự tin cậy của người tuyển dụng). Đặc biệt phần CV (tóm tắt thông tin cá nhân) cần làm rõ những khả năng, kinh nghiệm và định hướng lĩnh vực đang quan tâm và dự kiến kế hoạch để đạt được mục đích đó.

Nguyên tắc số 6: Hãy rèn luyện tính nghiêm túc, biết lựa chọn hướng đi rõ ràng và thể hiện nó.

7/ Tính thật thà: Trong phỏng vấn, đây là yếu tố rất quan trọng. Việc trả lời lòng vòng hoặc không nhất quán (đặc biệt các câu hỏi liên quan tới các vấn đề kỹ thuật) sẽ gây ấn tượng rất tệ. Những gì chưa rõ hoặc không biết thì cần trả lời ngay là chưa biết hoặc chưa nghiên cứu. Người tuyển dụng đánh giá cao nếu nhận thấy tính thật thà khi trả lời và tính cầu tiến (Ví dụ: Vấn đề này em chưa rõ nhưng có thể có câu trả lời chính xác sau…. thời gian)

Nguyên tắc số 7: Hãy luôn biết mình là ai và học lấy tinh thần cầu tiến

8/ Tính trách nhiệm, cẩn trọng và chủ động trong công việc: Trong thời điểm này, tính trách nhiệm, cẩn trọng được đánh giá cao hơn sự thông mình, nhanh nhạy nhưng không có trách nhiệm làm tới nơi tới chốn 1 công việc. Đặc biệt nếu bạn muốn vào các vị trí quan trọng (ví dụ quản trị mạng, vị trí liên quan tới bảo mật thông tin…)

Nguyên tắc số 8: Trong quá trình tuyển dụng, hãy thể hiện mình là người quyết đoán nhưng có trách nhiệm.

9/ Tính sáng tạo và khả năng hòa đồng nhanh chóng với môi trường mới: Nếu bạn có tố chất này thì sẽ được cộng điểm tương đối.

Nguyên tắc số 9: Khi tuyển dụng, hãy ăn nói tự nhiên một cách hợp lý, thân thiện và dí dỏm.

10/ Kinh nghiệm thực tế: được đánh giá thông qua các đề tài nghiên cứu khoa học, đồ án tốt nghiệp, nơi thực hành, làm tại các công ty trong thời gian sinh viên. Hãy cố gắng thể hiện ra được những gì mình đã từng làm và có liên quan tới nơi mà bạn xin việc. Cũng rất chú ý khi trình bày khả năng của mình, cần toát lên cho người tuyển dụng thấy được sự chắc chắn và rõ ràng đối với các thông tin bạn đưa ra.

Ví dụ: Trình bày một cách tổng quan về chính đồ án tốt nghiệp bạn đã làm. Cách làm tưởng chừng đơn giản nhưng sẽ khiến NTD đánh giá được nhiều về bạn.

Nguyên tắc số 10: Hãy chuẩn bị cho con đường của bạn bằng những thực nghiệm, nghiên cứu thực tế ngay từ lúc bạn còn trên ghế nhà trường và phát xuất ý tưởng.

Trên đây là một vài lời khuyên của một số các nhà tuyển dụng lớn về nhân lực IT ở Việt Nam và các chuyên gia. Chúng tôi cũng thu thập ý kiến của một số cá nhân từng có nhiều kinh nghiệm trong quá trình “bị” phỏng vấn tuyển dụng. Đúc kết lại, tất cả mọi người đều có chung một nhấn mạnh: Lời khuyên quan trọng nhất là hãy chuẩn bị cho mình một bản lĩnh vững vàng + niềm đam mê, bởi IT là một lĩnh vực đầy thử thách!

10 lời khuyên này được tổng hợp lại từ ý kiến của một số nhà tuyển dụng, đại diện cho rất nhiều nhà tuyển dụng của VN và thế giới. Do vậy, không hẳn đó đã là những lời khuyên đúng đắn tuyệt đối nhất. Song chúng tôi hy vọng, những lời khuyên này sẽ giúp các bạn trẻ ít nhiều trong một hoàn cảnh cụ thể nào đó.

Theo Vietnamnet

Luyện kỹ năng mềm nè

Đây là 2 website luyện kỹ năng mềm mà mình vào thường xuyên. Ai rãnh vào đây chơi cho vui hihi

http://www.kynangmem.com

http://www.baihocthanhcong.com

10 kỹ năng để dân IT luôn được ’săn đón’

Tất nhiên, để có được giây phút “vinh quang” ấy thì bạn cần phải có đủ những kỹ năng mà nhà tuyển dụng yêu cầu. Dưới đây là danh sách 10 kỹ năng được giới chuyên gia đánh giá là “hot” nhất trong thời gian tới.

1. Phát triển thuật toán
Với việc bộ lọc thư rác, các ứng dụng teamwork và phát hiện lừa đảo ngày càng trở nên phức tạp, tinh vi, các doanh nghiệp ngày càng cấn đến những nhân viên IT có thể thiết kế và phát triển thuật toán hoặc kỹ xảo để nâng cao hiệu suất cho máy tính.

“Ngày càng có nhiều ứng dụng với quy mô dữ liệu khổng lồ. Cách thức tổ chức, sắp xếp và trình bày dữ liệu có một vai trò cực kỳ quan trọng”.

Những kỹ năng như đào xới, tìm kiếm dữ liệu, lập mô hình số liệu thống kê… ngày càng được coi trọng. Bạn có thể học kỹ năng này thông qua kinh nghiệm làm việc thực tế hoặc ở trường lớp. Chỉ cần bạn nắm vững kỹ năng này trong tay, các doanh nghiệp sẽ “giật” bạn về nhanh như chưa bao giờ được nhanh vậy.

2) Di động hóa các ứng dụng
Cuộc đua cung cấp nội dung cho thiết bị di động đang bước vào hồi nước sôi lửa bỏng, thậm chí “hoang dại và điên cuồng” giống như cơn sốt Internet hồi những năm 90 vậy, ông Sean Ebner, Phó chủ tịch hãng Tuyển dụng Spherion Pacific cho biết.

Thêm vào đó, những thiết bị như BlackBerry, Treo đã trở thành công cụ làm việc quan trọng, không thiểu thiếu của nhiều người. Hơn bao giờ hết, các doanh nghiệp cần có một nhân viên kỹ thuật với kiến thức chuyên sâu về di động hóa. “Họ cần có người đưa các ứng dụng lên trên thiết bị di động”, Ebner dự đoán.

3. Mạng không dây
Các công nghệ mạng không dây như Wi-Fi, WiMax và Bluetooth ngày càng trở nên phổ biến. Hệ quả là doanh nghiệp nào cũng muốn lôi về một “bậc thầy” không dây, người am hiểu sâu sắc từng công nghệ một, những nguy cơ bảo mật tiềm ẩn, cách phối hợp các công nghệ với nhau sao cho tối ưu nhất…

Tất nhiên, chưa có ai được tuyển về chỉ vì anh ta là một kỹ thuật viên không dây. Anh ta trước hết phải là một nhà quản trị mạng tốt, trước khi có kiến thức chuyên sâu về mạng không dây mà thôi.

4) Giao diện người dùng
Một lĩnh vực khác cũng đang thu hút nhu cầu rất cao là thiết kế giao diện người dùng. “Nhà kỹ sư phần mềm không thể ném vào mặt người dùng một đống những thứ lem nhem, lổn nhổn được”, ông Ebner nói. Nhờ vào những hãng như Apple, người dùng ngày càng được tiếp cận với những sản phẩm được thiết kế rất hợp lý và thân thiện. Vì thế, doanh nghiệp có quyền đòi hỏi tất cả những phần mềm mà họ sử dụng đều phải có một giao diện rõ ràng và dễ dùng.

5) Quản lý dự án
Trong các chiến dịch săn đầu người của doanh nghiệp, trưởng nhóm dự án bao giờ cũng là vị trí được lùng sục nhiều nhất. “Nhà tuyển dụng muốn có một người thật sư am hiểu về vòng đời của dự án, thật sự điều hành và vận hành được dự án, có thể dẫn dắt tất cả những thành viên còn lại”, ông Grant Gorden, Giám đốc quản lý của Overland Park nhận định.

Một năm trước, ứng cử vào vị trí Trưởng nhóm dự án rất dễ. Nhưng giờ đây, những cuộc phỏng vấn trở nên xương xẩu hơn rất nhiều. Các ứng viên thích hợp ngày càng ít, nhưng một khi đã đủ tiêu chuẩn, họ có thể thoải mái lựa chọn mức lương và chế độ làm việc của mình.

6) Kỹ năng chung về mạng
Dù là bạn làm việc trong lĩnh vực nào của IT đi chăng nữa, bạn cũng không thể thoát khỏi mạng. Các kỹ sư phần mềm cũng phải có khái niệm cơ bản về mạng thì mới viết được những phần mềm tương thích tốt với Internet hay mạng nội bộ, Ethernet, sợi quang và TCP/IP.

“Họ cần hiểu rõ ứng dụng của mình sẽ hoạt động trong môi trường mạng như thế nào. Họ cần tận dụng được ưu thế của mạng trong thiết kế của mình”.

7) Mạng hội tụ
Cùng với việc VoIP ngày càng được nhiều doanh nghiệp ứng dụng, nhà quản trị mạng cần nắm được tất cả các loại mạng khác nhau như LAN, WAN, điện thoại, Internet… cũng như cách chúng hội tụ với nhau.

“Khi xảy ra sự cố, không ông sếp nào lại muốn nhà quản trị mạng đổ lỗi cho đường dây điện thoại, trong khi nhân viên điện thoại lại hất hàm “Đi mà hỏi ông mạng ấy”. Nói tóm lại, doanh nghiệp cần có một người làm trong lĩnh vực điện thoại nhưng am hiểu về mạng IT hoặc ngược lại, quản trị mạng nhưng am hiểu về mạng điện thoại.

8. Lập trình nguồn mở
Số lượng doanh nghiệp có hứng thú với các tài năng nguồn mở ngày một nhiều, cả trên phương diện hệ điều hành lẫn ứng dụng. Những người có kinh nghiệm lập trình với Linux, Apache, MySQL và PHP sẽ thấy mình được các hãng săn đón đến thế nào.

9) Bảo mật nhúng
Ngày nay, dễ dàng nhận thấy bất cứ vị trí tuyển dụng nào, trong phần mô tả công việc, cũng nhắc đến hai từ bảo mật. Doanh nghiệp muốn tìm một người có khả năng thiết lập nên những môi trường đảm bảo an ninh, dù cho đó là máy chủ email hay phát triển phần mềm. Bảo mật đã trở thành một phần không thể tách rời của công việc.

Rõ ràng là tư duy của doanh nghiệp đã thay đổi. Bảo mật không còn là chuyện của riêng một ai đó, mà nó đã được tích hợp vào hoạt động thường ngày của hãng. Tất nhiên, sẽ vẫn cần có chuyên gia riêng về bảo mật, nhưng một nhân viên IT bây giờ cũng phải nắm được các quy chuẩn tối thiểu về bảo mật thông tin.

10) Tích hợp công nghệ ngôi nhà số
“Mái ấm” của mỗi người đang dần biến thành thiên đường của công nghệ cao. Thị trường nghe – nhìn gia đình được dự đoán sẽ tăng trưởng chóng mặt trong thời gian tới, cùng với bảo mật gia đình và hệ thống chiếu sáng tự động hóa. Vấn đề là ai sẽ lắp đặt những hệ thống này đây, và ai sẽ sửa chúng khi có trục trặc xảy ra.

“Đây sẽ là lĩnh vực tuyển dụng cực nóng trong những tháng tới”, ông Grant Gorden cho biết.

VietCNTT [ Theo ComputerWorld - VNN ]