Color, size, margin, padding,…

Màu sắc, kích cở, canh lề, sắp xếp, vị trí,…. nếu sử dụng hợp lý và biết cách thì 1 văn bản thuần text vẫn tạo nên sự khác biệt.

Vai trò và tầm quan trọng của Phân tích thiết kế hệ thống

Bài này thảo luận về vai trò và tầm quan trọng của môn học Phân tích thiết kế hệ thống thông tin nói chung và Phân tích thiết kế hệ thống ATTT nói riêng. Đây là một số ý kiến tổng hợp được từ một số cuốn sách về Phân tích và thiết kế hệ thống.

- Xây dựng hệ thống thông tin là một hoạt động tổng hợp của các môn học thuộc lĩnh vực Công nghệ thông tin. Hệ thống thông tin tin học là một ứng dụng đầy đủ và toàn diện nhất các thành tựu của CNTT vào một tổ chức
- Xây dựng hệ thống thông tin là một hoạt động trải qua một loạt các giai đoạn để có sản phẩm cuối cùng là một hệ thống thông tin.
- Phân tích và thiết kế là giai đoạn đầu của quá trình phát triển hệ thống thông tin. Nó quyết định đến chất lượng và giá thành của hệ thống.
- Nhờ thiết kế tốt mà các hệ thống thông tin được duy trì hoạt động tốt và phát triển

- Quy mô và mức độ phức tạp của các hệ thống ngày càng tăng, nên phân tích và thiết kế trở thành một yêu cầu bắt buộc để có được một hệ thống tốt. Trong thực tế người ta thấy:

+ Những sai sót trong phân tích và thiết kế làm cho chi phí bảo trì trung bình của các hệ thống thông tin chiếm tới gần 60% tổng chi phí.

+ Có hiện tượng này là vì mức độ chi phí sửa chữa một sai lầm bị bỏ sót qua các giai đoạn phát triển hệ thống tăng lên đáng kể.

+ Một lỗi bị bỏ sót trong giai đoạn phân tích đến khi lập trình và cài đặt mới phát hiện ra thì chi phí sửa chữa tăng lên 40 lần và đến giai đoạn bảo trì mới phát hiện ra thì chi phí sữa chữa tăng lên gấp 90 lần

+ Hơn nữa, nếu thiếu phân tích thiết kế tốt thì rất khó và thậm chí không thể bảo trì được

- Một kỹ sư công nghệ thông tin bất kỳ, không thể không biết đọc các bản vẽ phân tích và thiết kế về hệ thống thông tin. Phân tích và thiết kế hệ thống có những phương pháp riêng và công cụ riêng, cũng như cần có kinh nghiệm nghề nghiệp. Một kỹ sư CNTT cần nhiều năm mới trở thành một nhà phân tích và thiết kế hệ thống

- Để trở thành một nhà phân tích và thiết kế đòi hỏi một người phải có ít nhất những loại kỹ năng sau:

+ Kỹ năng phân tích

+ Kỹ thuật tin học

+ Kỹ năng giao tiếp

+ Kỹ năng về nghiệp vụ và quản lý

Do vậy, môn học phất tích và thiết kế hệ thống là môn học gần như bắt buộc đối với những người làm CNTT để có thể hành nghề tốt

- Note: Một số giáo trình về Phân tích thiết kế hệ thống thông tin để tham khảo
1. Nguyễn Văn Vị, “Giáo trình Phân tích và thiết kế hệ thống thông tin hiện đại”, NXB ĐHQGHN, 2002
2. Nguyễn Văn Ba, “Phân tích thiết kế hệ thống thông tin”, ĐHBKHN, 2000

 

Trích dẫn:
Nguyên văn bởi _VoldemorT_ Xem bài gửi
Theo em được biết thì trường mình có giảng dạy môn Phân tích thiết kế hệ thống ATTT chứ ko dạy Phân tích thiết kế hệ thống thông tin. Như vậy liệu có nhanh quá và SV có bị choáng khi học ko ?
Theo anh để học tốt được môn đó cần chuẩn bị những môn nào cho kĩ ?

- Mình nghĩ khi học môn học PTTKHT ở trường thì có 2 mảng kiến thức cần thiết nhất để học tốt môn này là:
+ Kiến thức về Cơ sở dữ liệu (nhập môn csdl, các hệ quản trị csdl): Trong PTTKHT thường có phần thiết kế CSDL, lúc đó các kiến thức về mô hình thực thể quan hệ, mô hình dữ liệu quan hệ, các dạng chuẩn của quan hệ, phụ thuộc hàm,… rất cần thiết, khi thiết kế csdl vật lý thì kiến thức về các hệ quản trị cở dữ liệu cũng cần thiết
+ Kiến thức về lập trình: Ngôn ngữ lập trình (tư duy lập trình). Khi thiết kế các chức năng, người thiết kế phải nhìn thấy được cách thực hiện nó như thế nào trên NNLT, đặc biệt là giai đoạn lựa chọn một ngôn ngữ để cài đặt chương trình. Hiểu rõ các kỹ thuật lập trình, ưu nhược điểm của các NNLT giúp cho người thiết kế lựa chọn được một NNLT thích hợp để coding
+ Ngoài ra còn một số kiến thức khác của CNTT, cũng như một số kỹ năng khác nữa.
+ Môn học PTTKHT ATTT chắc cũng dựa trên PTTKHTTT nói chung (chẳng hạn như cũng phải tiếp cận theo mô hình thác nước, mô hình làm bản mẫu, mô hình xoắn ốc hoặc mô hình hướng đối tượng)
+ Hiện nay người ta thường tiếp cận PTTKHT theo mô hình hướng đối tượng vì vậy kiến thức về Ngôn ngữ mô hình hóa thống nhất, về RationalRose cũng cần thiết
+ Vì ở trường không học môn phân tích thiết kế, trong giáo trình môn PTTKHT ATTT cũng có đề cập đến những vấn đề này nhưng chắc không sâu, nên phải tìm đọc thêm vậy

(Theo http://www.kmasecurity.net/xforce/showthread.php?t=2693)

Săn việc “mùa thực tập”

Sinh viên nắm lấy cơ hội được tuyển dụng trong kì thực tập

Mơ ước được ngồi phòng máy lạnh, mặc đồ công sở và làm các công việc liên quan đến ngành học đã lâu nhưng chưa có dịp nào được thử sức mình, vì đang là sinh viên, chẳng cơ quan nào dám nhận, Hương mừng lắm khi đến kì thực tập năm cuối. Được phân công về một công ty tài chính, Hương quyết tâm sẽ “chiến đấu” thật tốt.

Vừa làm việc, vừa học hỏi kinh nghiệm của các anh chị trong phòng, Hương tiếp thu và tích luỹ thêm vốn kiến thức còn thiếu của mình. Vì là công ty mới thành lập nên những đồng nghiệp của Hương cũng rất trẻ, tính tình hợp nhau, thế nên dù là sinh viên đi thực tập, Hương được mọi người tôn trọng và chỉ bảo tận tình.

Kết thúc đợt thực tập, Hương bất ngờ nhận được lời hứa hẹn của bác giám đốc, ra trường sẽ được nhận vào làm nếu Hương đồng ý. Đang lo chưa biết xin việc ở đâu, Hương đã thực sự có được cơ hội việc làm của mình. Giờ Hương mới thấy không bõ công vất vả đi sớm về muộn những ngày tháng thực tập.

Làm thêm cho một công ty máy tính đã lâu nhưng vì còn đi học nên Tuấn chỉ làm part-time. Nửa ngày lên lớp, nửa ngày lên công ty, Tuấn cũng nhanh chóng khẳng định được mình và lọt vào tầm ngắm của lãnh đạo. Đến kì thực tập, trong khi bạn bè, kẻ ngược người xuôi đi tìm chỗ tử tế gửi gắm, Tuấn ung dung vào công ty mình thực tập nhưng thực tế là làm việc full-time. Có nhiều thời gian hơn, Tuấn càng chứng tỏ năng lực chuyên môn của mình. Chưa kết thúc đợt thực tập, Tuấn đã yên vị với chức danh nhóm trưởng trong công ty.

Được đánh giá là năng động và thông minh, sinh viên những năm gần đây đang bỏ xa các thế hệ đi trước vì biết chớp thời cơ trở thành ứng viên mọi nơi mọi lúc có thể. Không ít sinh viên coi thực tập là cơ hội đáng quý để chứng tỏ bản thân với các nhà tuyển dụng. Đâu cần chờ tới lúc cầm được tấm bằng tốt nghiệp mới chạy đôn chạy đáo đi kiếm việc làm và rải thảm hồ sơ, sinh viên ngày nay nắm rõ ý đồ và chiến lược tuyển dụng nhân tài của các doanh nghiệp trong cuộc chiến giành giật “chất xám” nên kì thực tập trở thành một trong những con đường ngắn nhất đưa sinh viên đến gần hơn với các doanh nghiệp.

Trong vai trò là người đi học hỏi và nắm bắt kinh nghiệm, sinh viên đã biến mình thành các ứng viên tương lai trong mắt các nhà tuyển dụng. Và cũng không ít người ngay sau đợt thực tập đã trở thành “người” của chính doanh nghiệp mình thực tập.

Thời gian thực tập của sinh viên hiện nay ở các trường đại học và cao đẳng thường là ba tháng trước khi tốt nghiệp. Nhiều trường nhận thức rõ đây là thời điểm quyết định cho sinh viên nên đã có những động thái tích cực tác động trước với các doanh nghiệp nhằm giúp sinh viên có điều kiện để bộc lộ năng lực, phẩm chất và đặc biệt là chuyên môn nghiệp vụ ngành. Các doanh nghiệp hiện nay cũng coi kì thực tập của các sinh viên tại cơ sở của mình là dịp để cho sinh viên thử việc, tuy không phải là nhiều nhưng qua các kì thực tập, biết đâu doanh nghiệp lại có được một nhân tài như mong đợi.

Nói như vậy không có nghĩa là sinh viên nào hiện nay cũng coi trọng vấn đề thực tập. Nhiều người còn cho rằng thực tập cũng chỉ là “đi học” vì vẫn trong sự quản lý của trường đào tạo. Thậm chí có những sinh viên do tâm lý đến thực tập cũng chỉ được làm “chân sai vặt” nên không có sự chuẩn bị kĩ càng như tìm hiều trước công ty, doanh nghiệp nên khi đến thực tập, được giao những công việc chuyên môn như các nhân viên trong cơ quan, sinh viên không tránh được những bỡ ngỡ.

Ngược lại, cũng có những doanh nghiệp không mặn mà lắm với kì thực tập của sinh viên nên nếu không từ chối thì khi nhận sinh viên vào cũng có thái độ thờ ơ, chưa đúng mực dành cho sinh viên khiến họ nhanh chóng chán nản.

Đã đến lúc cả sinh viên, các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp cần nhìn nhận đúng đắn và đầy đủ hơn về vấn đề thực tập của sinh viên Thực tập là khoảng thời gian cần thiết để sinh viên trang bị thêm kiến thức nghiệp vụ và kinh nghiệm làm việc thực tế của mình và cũng là cơ hội để doanh nghiệp tuyển dụng và có thể tuyển dụng thêm nhân tài nếu biết cách tạo điều kiện cho họ.

Theo Võ Hiền

Vieclam.vtv

Những vấn đề về tuyển dụng nhân sự của các công ty Công nghệ Thông tin lớn

Ngày nay, những sinh viên mới ra trường và những người khó tìm việc trong giới Công nghệ Thông tin thường nói về việc được tuyển vào làm cho những tập đoàn tên tuổi khổng lồ trong IT như Microsoft, IBM, Oracle, Google, Yahoo, Cisco … như là giấc mơ một đời người.

Báo chí và những bài viết đần độn dành cho thông tin đại chúng đã làm cho những cuộc phỏng vấn vào các công ty lớn kể trên như là những cuộc phiêu lưu thú vị đầy những khó khăn, thử thách tuyệt vời về tư duy dành cho những lập trình viên trẻ tuổi, thiên tài và nhiều tham vọng.

Nhưng thực tế không phải toàn là màu hồng như những hình ảnh PR do các công ty đó và các tạp chí tay sai của họ cùng bọn bồi bút tạo nên. Thực ra việc tuyển dụng nhân sự vào các công ty khổng lồ có nhiều vấn đề nực cười và lố bịch hơn nhiều so với những hình ảnh họ cố gắng trưng bày ra trước công chúng.

Sau đây là một vài vấn đề chính.

1) Hiệu ứng “hàng hiệu”

Các bạn có thể thấy là những nhà sáng lập chính của các công ty IT thành công lớn trên thế giới như Bill Gates, Larry Ellison, Larry Page, Sergey Brin, Michael Dell … là những người không có bằng cấp gì cho ra hồn người, nếu không bỏ học Đại học thì cũng bỏ làm Tiến sĩ.

Nhưng ít ai để ý là những người này đều là “hàng hiệu”, nghĩa là ít nhất cũng đặt chân vào cổng trường những trường danh giá, ví dụ như Bill Gates từng đánh poker ở Harvard, còn Larry Page và Sergey Brin thì đã từng ngồi tễu ngắm gái trên ghế đá Đại học Standford, cùng nhau chỉ trỏ bàn tán thô bỉ.

Ngoài ra, các công ty lớn thường nhận được hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn hồ sơ xin việc mỗi ngày. Do đó, bất kể những gì mà họ rêu rao trước công chúng về chuyện “Khả năng quan trọng hơn bằng cấp”, “Chúng tôi không tuyển chọn mọt sách mà tuyển chọn nhân tài” …, nếu các bạn không tốt nghiệp hoặc đang học tại một trong những trường Đại học hàng đầu thế giới như Standford, MIT, Berkeley, Carnegie Melon …, thì khả năng hồ sơ xin việc của các bạn được quẳng vào sọt rác trước khi có ai đó đọc tới dòng thứ hai là rất gần với 101%.

Cái này gọi là “Brand name effect”, hay còn gọi là “Hiệu ứng sành điệu”.

2) Hiệu ứng vực xoáy (Spiral effect)

Bất kể các khẩu hiệu về chuyện “tuyển chọn nhân tài”, hoặc “công ty chúng tôi chỉ dành cho những người giỏi nhất”, công ty lớn là công ty lớn, và trong môi trường đó, bao giờ cũng có cạnh tranh. Mà một trong những cạnh tranh lớn nhất, khốc liệt nhất là “job security”.

Bây giờ không phải là những năm 80 của thế kỷ 20, khi mà lập trình viên như sao buổi sớm, quản trị mạng như lá mùa thu. Bây giờ bất kỳ con gián nào biết phân biệt phím Enter và ESC cũng có thể làm quản trị mạng, và bất kể ông kễnh bốc phét nào biết phân biệt “include <stdio.h>” và “import java.swing.*” cũng có thể vỗ ngực làm lập trình viên.

Vì thế tìm được việc làm trong ngành Công nghệ Thông tin đã khó, giữ được việc làm còn khó hơn. Nhất là những chỗ làm an nhàn, quyền lợi béo mà hầu như chả phải làm gì, đại khái như các vị trí management trong các công ty lớn. Và chính các vị làm ở các vị trí management này và các cộng sự của họ sẽ phỏng vấn về kỹ thuật và công nghệ để tuyển nhân viên mới.

Tất nhiên là họ không tuyển những thằng ngu, vì như thế thì không có ai làm tay sai cho họ, làm ra “tiền tươi, thóc thật”, trong khi họ chỉ ngồi mát ăn bát vàng. Mặt khác, họ cũng không tuyển những thiên tài có khả năng đe dọa chiếc ghế của họ đang ngồi.

Vì thế, khởi đầu, công ty có thể là một tập hợp những người rất giỏi, có quyền lợi gắn bó với sự thành công và thất bại của công ty. Nhưng khi công ty bắt đầu lớn lên, các vị trí management chỉ là những người làm thuê, người làm thuê đầu tiên sẽ tuyển những người kém hơn mình một tí, rồi đến lượt những người kia lại tuyển những người khác kém hơn mình một tí nữa … và cứ thế … cứ thế … vực xoáy cứ càng ngày càng sâu … thế mới gọi là spiral effect.

Vì thế, ngày nay việc vượt qua vòng phỏng vấn kỹ thuật của các công ty lớn không phải là chuyện bạn có thực sự giỏi hay không, mà là bạn phải có “a right amount of stupidity”, nghĩa là phải ngu xuẩn một cách đúng mức. Hoặc bạn phải là một diễn viên kịch nghệ xuất sắc kiêm lập trình viên siêu đẳng, để biết cách trả lời hoàn hảo một vài câu hỏi, trả lời đến mức 95% hoặc 97% cho một vài câu hỏi khác, và giả vờ fail một số câu hỏi đơn giản, để người phỏng vấn thấy rằng bạn không đe dọa chiếc ghế của họ.

Nếu bạn quá ngu xuẩn, thì tất nhiên là chả ai thèm tuyển bạn. Nhưng nếu bạn tỏ ra giỏi hơn những người đang phỏng vấn bạn, hoặc trả lời các câu hỏi một cách quá trôi chảy, hoàn hảo thì hãy coi chừng. Khả năng mà bạn bị từ chối tuyển dụng cũng sẽ rất gần với 101 %.

3) Hiệu ứng con khỉ (Monkey sees, monkey does)

Vào thời gian mới bắt đầu khởi nghiệp, các chuyên gia của Microsoft thường có cách phỏng vấn độc đáo là hỏi những câu hỏi ít liên quan, hoặc không liên quan tới Computer Science, nhằm mục đích loại trừ các con mọt sách, và thử xem các ứng viên có khả năng tư duy sáng tạo hay không.

Ví dụ như họ có thể hỏi: “Tại sao nắp cống có hình tròn?”, hoặc “Có 3 công tắc ở trong một phòng, và có 3 bóng đèn ứng với 3 công tắc đó trong một phòng khác. Từ trong phòng này không thể nhìn thấy phòng kia. Làm thế nào để chỉ cần 1 lần đi từ phòng này sang phòng kia, bạn có thể biết được công tắc nào ứng với bóng đèn nào?”.

Tất cả có vẻ tốt. Nhưng sau này, các công ty Công nghệ đã lạm dụng lối hỏi này, và thậm chí cứ hỏi một cách ngớ ngẩn, và chả hiểu tại sao lại làm thế.

Ví dụ có một người hỏi một ứng viên thế này: “Có bao nhiêu cây xăng ở bang Massachusetts?”
Ứng viên trả lời: “Có 5000 cây xăng.”
Người phỏng vấn hỏi: “Tại sao lại 5000?”.
Ứng viên trả lời: “Tất nhiên là thằng ngu nào cũng biết là khi hỏi câu này, người ta sẽ chờ đợi là ứng viên sẽ phân tích xem trung bình một người dùng một tuần bao nhiêu xăng, đổ xăng bao nhiều lần, rồi vùng này có bao nhiêu người …, từ đó suy ra có bao nhiêu cây xăng. Nhưng sự thực là cuộc sống khác với xác suất thống kê trên giấy, nên ông hãy trả lời tôi câu này: Ông thuê tôi vào để lập trình, hay là để hack vào database quản lý xăng dầu của chính quyền bang?, rồi tôi sẽ trả lời nghiêm chỉnh câu hỏi của ông.

Ngoài ra, làm sao ông có thể chứng minh được là không phải là có 5000 cây xăng, mà chỉ có 3000 chẳng hạn? Hoặc việc suy ra là có 5000 cây xăng thì liên quan gì đến việc người trả lời có phải là một lập trình viên giỏi hay không?”

Tóm lại là nhân viên phỏng vấn của các công ty lớn hiện nay chỉ thi đua nhau xem ai đưa ra nhiều câu hỏi ngu xuẩn và ngớ ngẩn hơn, chứ không phải là tập trung vào việc tìm lập trình viên giỏi. Thấy Microsoft làm thế, họ cũng làm thế. Monkey sees, monkey does.
Đó là chưa kể là trong các trường Đại học tại Mỹ hiện nay, sinh viên thi nhau thu thập, in và chuyền tay nhau những bản hỏi-đáp của những câu hỏi phỏng vấn như vậy, gọi là “Cẩm nang Microsoft” hay “Những câu hỏi phỏng vấn ngu xuẩn nhất thế kỷ 20″. (không có thế kỷ 21, vì về mặt cơ bản là các phỏng vấn hiện nay cũng chả có câu hỏi nào mới hơn các câu hỏi của Microsoft từ thế kỷ trước).

Do đó, ý nghĩa của việc hỏi những câu hỏi nhằm kiểm tra tính suy luận “ngu” cũng giảm đi rất nhiều, và khoa học đã chỉ ra rằng chả có gì chứng tỏ khả năng trả lời những câu hỏi “dở hơi biết bơi” lại có liên quan đến khả năng lập trình hay phát minh, sáng tạo.

Vì vậy, các bạn trẻ có ý định tìm việc làm trong ngành Công nghệ Thông tin hãy thực tế hơn một chút.

Nếu các bạn thực sự giỏi, có khả năng sáng tạo cao, thì nên tìm môi trường start-up. Ở đó cơ hội để các bạn trở thành triệu phú hoặc tỷ phú nhiều hơn, và ít có thói quan liêu, lừa lọc lẫn nhau, ghen tỵ, tranh giành, đấu đá hơn.

Các bạn có thể thấy là các ngôi sao của ngành Công nghệ Thông tin như Yukihiro Matsumoto, David Hainemeier Hansson, Torvalds Linux, Martin Fowler, Bruce Tate, Justin Gehtland, David Black, Zed Shaw … chả có ai đi làm thuê cho bọn địa chủ, cường hào ác bá hết, mà chỉ tự làm hoặc làm cho các công ty nhỏ.

Tuy nhiên nếu bạn chỉ có một trình độ tầm tầm, tốt nghiệp một trường hàng hiệu, có một “giấc mơ con” sắp sửa “đè nát cuộc đời con” là kiếm một đồng lương 6 chữ số USD hàng năm, vỗ ngực xưng tên với các nhãn hiệu lớn, giải quyết khâu oai, thì nên học thêm một lớp “diễn viên điện ảnh” và cố gắng luyện để biết thế nào là “a right amount of stupidity”.

Làm thuê cho công ty lớn cũng chả có gì xấu, có khi cũng hay, trừ thói quan liêu cửa quyền của bọn nhân sự và nguy cơ biến thành một cái đinh ốc trong một cỗ máy lớn, năm này qua năm khác làm đi làm lại công việc của một cái đinh ốc hay một cái bánh răng.

“Coding” – Nghề của những áp lực

Là kỹ sư công nghệ thông tin, bạn phải làm quen với cảm giác bất lực và bực bội khi nhìn chăm chăm vào màn hình, sục sạo hàng trăm dòng code cả tuần để tìm lỗi mà nhiều khi chỉ là một dấu chấm, dấu phẩy…

Lập trình viên (LTV) được ví là những thợ “coding” (người ngồi gõ những đoạn mã trên máy tính), làm ra các phần mềm hoặc chỉnh sửa, phát triển nó dựa trên các công cụ lập trình. Nói một cách khác, LTV có vẻ giống một nhân viên nhập dữ liệu đơn thuần, ngày ngày đến công sở gõ những dòng code theo chỉ dẫn. Theo đó, lập trình là một công việc khá buồn tẻ, thuần túy kỹ thuật, không đòi hỏi sự sáng tạo và đúng nghĩa là high- tech.

Do đó, nếu dự định theo nghề LTV, bạn phải rèn luyện cho mình khả năng sống chung với các áp lực deadline và khối lượng công việc. Đa số các dự án phần mềm hiện nay vẫn bị mắc tỉ lệ 80-20. Có nghĩa là trong 80% thời gian đầu của dự án thường chỉ làm được 20% khối lượng công việc, và 20% thời gian còn lại thì phải giải quyết nốt 80% khối lượng công việc. Ông Vincent Quyền, GĐ Cty phần mềm Contour (Nhật) cho biết: Thức trắng hàng tuần để chạy theo tiến độ là không tránh khỏi.

Tuy vậy, nhiều LTV vẫn chưa đánh giá hết tầm quan trọng của việc lập kế hoạch chi tiết và triển khai dự án từ ngày đầu tiên. Trung Hiếu – một LTV vừa vượt qua vòng bảo vệ project nhớ lại: “Thời gian đầu mọi việc chạy đều, nhưng lúc gần hoàn thiện thì bắt đầu phát sinh đủ thứ, càng về cuối càng thấy khối lượng công việc khủng khiếp. Trước kia nghe nói chuyện “lụt dự án”, giờ mới nếm mùi”. Ngoài ra, bạn phải làm quen với cảm giác bất lực và bực bội khi phải nhìn chăm chăm vào màn hình vi tính, sục sạo hàng trăm dòng code cả tuần và kết quả tìm ra lỗi nằm ở việc thiếu một ký tự như dấu chấm, dấu phẩy.

Ngược với những áp lực trên, LTVcó mức thu nhập khá (một LTV mới vào nghề khoảng 200 USD/tháng, có 3- 4 năm kinh nghiệm hoặc làm ở vị trí quản lý sẽ có thu nhập khoảng 700 – 1.000 USD/tháng. Nếu làm ở nước ngoài thu nhập sẽ cao hơn nhiều) và có những khoảng tự do. Trong các dự án, trưởng nhóm chỉ định phần công việc và thời gian cần hoàn thành, còn lại LTV chủ động tìm giải pháp hoàn thành công việc. Nghĩa là có thể đến công sở vài lần trong một tuần miễn là hoàn thành công việc được giao. Như vậy, nếu biết cân bằng và sắp xếp khoa học công việc, LTV có thể bỏ qua được những áp lực nặng nề.

Đồng thời, từ công việc lập trình, các LTV hoàn toàn có cơ hội thử sức ở những vị trí khác hấp dẫn hơn như tham gia nhiều dự án lớn, thu thập được kỹ năng và kinh nghiệm chuyên môn và có kiến thức quản lý thì một LTV có thể thăng tiến lên vị trí trưởng nhóm, giám đốc dự án hoặc mở Cty riêng. LTV cũng có điều kiện làm việc ở nhiều nước như Mỹ, Nhật… trong những dự án của công ty gia công phần mềm cho nước ngoài. Hoặc họ có thể ngồi ở Việt Nam nhưng lại làm việc trong một nhóm nhiều chuyên gia trên thế giới.

Quan trọng là bạn phải sẵn sàng đối diện với những áp lực và cơ hội nếu muốn theo đuổi nghề này.

Nguồn : http://my.opera.com/huyhung.hanu/blog/2007/12/11/coding-nghe-cua-nhung-ap-luc

Follow

Get every new post delivered to your Inbox.