Săn việc “mùa thực tập”

Sinh viên nắm lấy cơ hội được tuyển dụng trong kì thực tập

Mơ ước được ngồi phòng máy lạnh, mặc đồ công sở và làm các công việc liên quan đến ngành học đã lâu nhưng chưa có dịp nào được thử sức mình, vì đang là sinh viên, chẳng cơ quan nào dám nhận, Hương mừng lắm khi đến kì thực tập năm cuối. Được phân công về một công ty tài chính, Hương quyết tâm sẽ “chiến đấu” thật tốt.

Vừa làm việc, vừa học hỏi kinh nghiệm của các anh chị trong phòng, Hương tiếp thu và tích luỹ thêm vốn kiến thức còn thiếu của mình. Vì là công ty mới thành lập nên những đồng nghiệp của Hương cũng rất trẻ, tính tình hợp nhau, thế nên dù là sinh viên đi thực tập, Hương được mọi người tôn trọng và chỉ bảo tận tình.

Kết thúc đợt thực tập, Hương bất ngờ nhận được lời hứa hẹn của bác giám đốc, ra trường sẽ được nhận vào làm nếu Hương đồng ý. Đang lo chưa biết xin việc ở đâu, Hương đã thực sự có được cơ hội việc làm của mình. Giờ Hương mới thấy không bõ công vất vả đi sớm về muộn những ngày tháng thực tập.

Làm thêm cho một công ty máy tính đã lâu nhưng vì còn đi học nên Tuấn chỉ làm part-time. Nửa ngày lên lớp, nửa ngày lên công ty, Tuấn cũng nhanh chóng khẳng định được mình và lọt vào tầm ngắm của lãnh đạo. Đến kì thực tập, trong khi bạn bè, kẻ ngược người xuôi đi tìm chỗ tử tế gửi gắm, Tuấn ung dung vào công ty mình thực tập nhưng thực tế là làm việc full-time. Có nhiều thời gian hơn, Tuấn càng chứng tỏ năng lực chuyên môn của mình. Chưa kết thúc đợt thực tập, Tuấn đã yên vị với chức danh nhóm trưởng trong công ty.

Được đánh giá là năng động và thông minh, sinh viên những năm gần đây đang bỏ xa các thế hệ đi trước vì biết chớp thời cơ trở thành ứng viên mọi nơi mọi lúc có thể. Không ít sinh viên coi thực tập là cơ hội đáng quý để chứng tỏ bản thân với các nhà tuyển dụng. Đâu cần chờ tới lúc cầm được tấm bằng tốt nghiệp mới chạy đôn chạy đáo đi kiếm việc làm và rải thảm hồ sơ, sinh viên ngày nay nắm rõ ý đồ và chiến lược tuyển dụng nhân tài của các doanh nghiệp trong cuộc chiến giành giật “chất xám” nên kì thực tập trở thành một trong những con đường ngắn nhất đưa sinh viên đến gần hơn với các doanh nghiệp.

Trong vai trò là người đi học hỏi và nắm bắt kinh nghiệm, sinh viên đã biến mình thành các ứng viên tương lai trong mắt các nhà tuyển dụng. Và cũng không ít người ngay sau đợt thực tập đã trở thành “người” của chính doanh nghiệp mình thực tập.

Thời gian thực tập của sinh viên hiện nay ở các trường đại học và cao đẳng thường là ba tháng trước khi tốt nghiệp. Nhiều trường nhận thức rõ đây là thời điểm quyết định cho sinh viên nên đã có những động thái tích cực tác động trước với các doanh nghiệp nhằm giúp sinh viên có điều kiện để bộc lộ năng lực, phẩm chất và đặc biệt là chuyên môn nghiệp vụ ngành. Các doanh nghiệp hiện nay cũng coi kì thực tập của các sinh viên tại cơ sở của mình là dịp để cho sinh viên thử việc, tuy không phải là nhiều nhưng qua các kì thực tập, biết đâu doanh nghiệp lại có được một nhân tài như mong đợi.

Nói như vậy không có nghĩa là sinh viên nào hiện nay cũng coi trọng vấn đề thực tập. Nhiều người còn cho rằng thực tập cũng chỉ là “đi học” vì vẫn trong sự quản lý của trường đào tạo. Thậm chí có những sinh viên do tâm lý đến thực tập cũng chỉ được làm “chân sai vặt” nên không có sự chuẩn bị kĩ càng như tìm hiều trước công ty, doanh nghiệp nên khi đến thực tập, được giao những công việc chuyên môn như các nhân viên trong cơ quan, sinh viên không tránh được những bỡ ngỡ.

Ngược lại, cũng có những doanh nghiệp không mặn mà lắm với kì thực tập của sinh viên nên nếu không từ chối thì khi nhận sinh viên vào cũng có thái độ thờ ơ, chưa đúng mực dành cho sinh viên khiến họ nhanh chóng chán nản.

Đã đến lúc cả sinh viên, các cơ sở đào tạo và doanh nghiệp cần nhìn nhận đúng đắn và đầy đủ hơn về vấn đề thực tập của sinh viên Thực tập là khoảng thời gian cần thiết để sinh viên trang bị thêm kiến thức nghiệp vụ và kinh nghiệm làm việc thực tế của mình và cũng là cơ hội để doanh nghiệp tuyển dụng và có thể tuyển dụng thêm nhân tài nếu biết cách tạo điều kiện cho họ.

Theo Võ Hiền

Vieclam.vtv

Những vấn đề về tuyển dụng nhân sự của các công ty Công nghệ Thông tin lớn

Ngày nay, những sinh viên mới ra trường và những người khó tìm việc trong giới Công nghệ Thông tin thường nói về việc được tuyển vào làm cho những tập đoàn tên tuổi khổng lồ trong IT như Microsoft, IBM, Oracle, Google, Yahoo, Cisco … như là giấc mơ một đời người.

Báo chí và những bài viết đần độn dành cho thông tin đại chúng đã làm cho những cuộc phỏng vấn vào các công ty lớn kể trên như là những cuộc phiêu lưu thú vị đầy những khó khăn, thử thách tuyệt vời về tư duy dành cho những lập trình viên trẻ tuổi, thiên tài và nhiều tham vọng.

Nhưng thực tế không phải toàn là màu hồng như những hình ảnh PR do các công ty đó và các tạp chí tay sai của họ cùng bọn bồi bút tạo nên. Thực ra việc tuyển dụng nhân sự vào các công ty khổng lồ có nhiều vấn đề nực cười và lố bịch hơn nhiều so với những hình ảnh họ cố gắng trưng bày ra trước công chúng.

Sau đây là một vài vấn đề chính.

1) Hiệu ứng “hàng hiệu”

Các bạn có thể thấy là những nhà sáng lập chính của các công ty IT thành công lớn trên thế giới như Bill Gates, Larry Ellison, Larry Page, Sergey Brin, Michael Dell … là những người không có bằng cấp gì cho ra hồn người, nếu không bỏ học Đại học thì cũng bỏ làm Tiến sĩ.

Nhưng ít ai để ý là những người này đều là “hàng hiệu”, nghĩa là ít nhất cũng đặt chân vào cổng trường những trường danh giá, ví dụ như Bill Gates từng đánh poker ở Harvard, còn Larry Page và Sergey Brin thì đã từng ngồi tễu ngắm gái trên ghế đá Đại học Standford, cùng nhau chỉ trỏ bàn tán thô bỉ.

Ngoài ra, các công ty lớn thường nhận được hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn hồ sơ xin việc mỗi ngày. Do đó, bất kể những gì mà họ rêu rao trước công chúng về chuyện “Khả năng quan trọng hơn bằng cấp”, “Chúng tôi không tuyển chọn mọt sách mà tuyển chọn nhân tài” …, nếu các bạn không tốt nghiệp hoặc đang học tại một trong những trường Đại học hàng đầu thế giới như Standford, MIT, Berkeley, Carnegie Melon …, thì khả năng hồ sơ xin việc của các bạn được quẳng vào sọt rác trước khi có ai đó đọc tới dòng thứ hai là rất gần với 101%.

Cái này gọi là “Brand name effect”, hay còn gọi là “Hiệu ứng sành điệu”.

2) Hiệu ứng vực xoáy (Spiral effect)

Bất kể các khẩu hiệu về chuyện “tuyển chọn nhân tài”, hoặc “công ty chúng tôi chỉ dành cho những người giỏi nhất”, công ty lớn là công ty lớn, và trong môi trường đó, bao giờ cũng có cạnh tranh. Mà một trong những cạnh tranh lớn nhất, khốc liệt nhất là “job security”.

Bây giờ không phải là những năm 80 của thế kỷ 20, khi mà lập trình viên như sao buổi sớm, quản trị mạng như lá mùa thu. Bây giờ bất kỳ con gián nào biết phân biệt phím Enter và ESC cũng có thể làm quản trị mạng, và bất kể ông kễnh bốc phét nào biết phân biệt “include <stdio.h>” và “import java.swing.*” cũng có thể vỗ ngực làm lập trình viên.

Vì thế tìm được việc làm trong ngành Công nghệ Thông tin đã khó, giữ được việc làm còn khó hơn. Nhất là những chỗ làm an nhàn, quyền lợi béo mà hầu như chả phải làm gì, đại khái như các vị trí management trong các công ty lớn. Và chính các vị làm ở các vị trí management này và các cộng sự của họ sẽ phỏng vấn về kỹ thuật và công nghệ để tuyển nhân viên mới.

Tất nhiên là họ không tuyển những thằng ngu, vì như thế thì không có ai làm tay sai cho họ, làm ra “tiền tươi, thóc thật”, trong khi họ chỉ ngồi mát ăn bát vàng. Mặt khác, họ cũng không tuyển những thiên tài có khả năng đe dọa chiếc ghế của họ đang ngồi.

Vì thế, khởi đầu, công ty có thể là một tập hợp những người rất giỏi, có quyền lợi gắn bó với sự thành công và thất bại của công ty. Nhưng khi công ty bắt đầu lớn lên, các vị trí management chỉ là những người làm thuê, người làm thuê đầu tiên sẽ tuyển những người kém hơn mình một tí, rồi đến lượt những người kia lại tuyển những người khác kém hơn mình một tí nữa … và cứ thế … cứ thế … vực xoáy cứ càng ngày càng sâu … thế mới gọi là spiral effect.

Vì thế, ngày nay việc vượt qua vòng phỏng vấn kỹ thuật của các công ty lớn không phải là chuyện bạn có thực sự giỏi hay không, mà là bạn phải có “a right amount of stupidity”, nghĩa là phải ngu xuẩn một cách đúng mức. Hoặc bạn phải là một diễn viên kịch nghệ xuất sắc kiêm lập trình viên siêu đẳng, để biết cách trả lời hoàn hảo một vài câu hỏi, trả lời đến mức 95% hoặc 97% cho một vài câu hỏi khác, và giả vờ fail một số câu hỏi đơn giản, để người phỏng vấn thấy rằng bạn không đe dọa chiếc ghế của họ.

Nếu bạn quá ngu xuẩn, thì tất nhiên là chả ai thèm tuyển bạn. Nhưng nếu bạn tỏ ra giỏi hơn những người đang phỏng vấn bạn, hoặc trả lời các câu hỏi một cách quá trôi chảy, hoàn hảo thì hãy coi chừng. Khả năng mà bạn bị từ chối tuyển dụng cũng sẽ rất gần với 101 %.

3) Hiệu ứng con khỉ (Monkey sees, monkey does)

Vào thời gian mới bắt đầu khởi nghiệp, các chuyên gia của Microsoft thường có cách phỏng vấn độc đáo là hỏi những câu hỏi ít liên quan, hoặc không liên quan tới Computer Science, nhằm mục đích loại trừ các con mọt sách, và thử xem các ứng viên có khả năng tư duy sáng tạo hay không.

Ví dụ như họ có thể hỏi: “Tại sao nắp cống có hình tròn?”, hoặc “Có 3 công tắc ở trong một phòng, và có 3 bóng đèn ứng với 3 công tắc đó trong một phòng khác. Từ trong phòng này không thể nhìn thấy phòng kia. Làm thế nào để chỉ cần 1 lần đi từ phòng này sang phòng kia, bạn có thể biết được công tắc nào ứng với bóng đèn nào?”.

Tất cả có vẻ tốt. Nhưng sau này, các công ty Công nghệ đã lạm dụng lối hỏi này, và thậm chí cứ hỏi một cách ngớ ngẩn, và chả hiểu tại sao lại làm thế.

Ví dụ có một người hỏi một ứng viên thế này: “Có bao nhiêu cây xăng ở bang Massachusetts?”
Ứng viên trả lời: “Có 5000 cây xăng.”
Người phỏng vấn hỏi: “Tại sao lại 5000?”.
Ứng viên trả lời: “Tất nhiên là thằng ngu nào cũng biết là khi hỏi câu này, người ta sẽ chờ đợi là ứng viên sẽ phân tích xem trung bình một người dùng một tuần bao nhiêu xăng, đổ xăng bao nhiều lần, rồi vùng này có bao nhiêu người …, từ đó suy ra có bao nhiêu cây xăng. Nhưng sự thực là cuộc sống khác với xác suất thống kê trên giấy, nên ông hãy trả lời tôi câu này: Ông thuê tôi vào để lập trình, hay là để hack vào database quản lý xăng dầu của chính quyền bang?, rồi tôi sẽ trả lời nghiêm chỉnh câu hỏi của ông.

Ngoài ra, làm sao ông có thể chứng minh được là không phải là có 5000 cây xăng, mà chỉ có 3000 chẳng hạn? Hoặc việc suy ra là có 5000 cây xăng thì liên quan gì đến việc người trả lời có phải là một lập trình viên giỏi hay không?”

Tóm lại là nhân viên phỏng vấn của các công ty lớn hiện nay chỉ thi đua nhau xem ai đưa ra nhiều câu hỏi ngu xuẩn và ngớ ngẩn hơn, chứ không phải là tập trung vào việc tìm lập trình viên giỏi. Thấy Microsoft làm thế, họ cũng làm thế. Monkey sees, monkey does.
Đó là chưa kể là trong các trường Đại học tại Mỹ hiện nay, sinh viên thi nhau thu thập, in và chuyền tay nhau những bản hỏi-đáp của những câu hỏi phỏng vấn như vậy, gọi là “Cẩm nang Microsoft” hay “Những câu hỏi phỏng vấn ngu xuẩn nhất thế kỷ 20″. (không có thế kỷ 21, vì về mặt cơ bản là các phỏng vấn hiện nay cũng chả có câu hỏi nào mới hơn các câu hỏi của Microsoft từ thế kỷ trước).

Do đó, ý nghĩa của việc hỏi những câu hỏi nhằm kiểm tra tính suy luận “ngu” cũng giảm đi rất nhiều, và khoa học đã chỉ ra rằng chả có gì chứng tỏ khả năng trả lời những câu hỏi “dở hơi biết bơi” lại có liên quan đến khả năng lập trình hay phát minh, sáng tạo.

Vì vậy, các bạn trẻ có ý định tìm việc làm trong ngành Công nghệ Thông tin hãy thực tế hơn một chút.

Nếu các bạn thực sự giỏi, có khả năng sáng tạo cao, thì nên tìm môi trường start-up. Ở đó cơ hội để các bạn trở thành triệu phú hoặc tỷ phú nhiều hơn, và ít có thói quan liêu, lừa lọc lẫn nhau, ghen tỵ, tranh giành, đấu đá hơn.

Các bạn có thể thấy là các ngôi sao của ngành Công nghệ Thông tin như Yukihiro Matsumoto, David Hainemeier Hansson, Torvalds Linux, Martin Fowler, Bruce Tate, Justin Gehtland, David Black, Zed Shaw … chả có ai đi làm thuê cho bọn địa chủ, cường hào ác bá hết, mà chỉ tự làm hoặc làm cho các công ty nhỏ.

Tuy nhiên nếu bạn chỉ có một trình độ tầm tầm, tốt nghiệp một trường hàng hiệu, có một “giấc mơ con” sắp sửa “đè nát cuộc đời con” là kiếm một đồng lương 6 chữ số USD hàng năm, vỗ ngực xưng tên với các nhãn hiệu lớn, giải quyết khâu oai, thì nên học thêm một lớp “diễn viên điện ảnh” và cố gắng luyện để biết thế nào là “a right amount of stupidity”.

Làm thuê cho công ty lớn cũng chả có gì xấu, có khi cũng hay, trừ thói quan liêu cửa quyền của bọn nhân sự và nguy cơ biến thành một cái đinh ốc trong một cỗ máy lớn, năm này qua năm khác làm đi làm lại công việc của một cái đinh ốc hay một cái bánh răng.

Các lĩnh vực công việc trong ngành IT

Cac linh vuc cong viec trong nganh IT

Có rất nhiều loại hình công việc trong ngành công nghệ thông tin: từ lập trình viên, nhân viên kinh doanh đến thiết kế web… tùy thuộc vào các điểm mạnh và sự yêu thích mà bạn có thể tìm được cho mình vai trò phụ hợp.

Sau đây là một vài lựa chọn tiêu biểu:

- Nhân viên phân tích dữ liệu

- Quản trị hệ thống

- Lập trình viên

- Kỹ sư phần mềm

- Nhân viên phân tích hệ thống

- Chuyên viên hỗ trợ kỹ thuật/ người sử dụng cuối cùng

- Thiết kế web/ dịch vụ Internet

1. Nhân viên phân tích dữ liệu

Nhiệm vụ:

- Làm việc cho các công ty phần mềm, công ty tư vấn, công ty ứng dụng công nghệ thông tin thuộc các ngành nghề khác nhau

- Thảo luận về các nhu cầu ứng dụng công nghệ thông tin trong doanh nghiệp với các nhân viên nội bộ hay các khách hàng.

- Thu thập và sắp xếp các dữ liệu thích hợp khi xây dựng cơ sở dữ liệu và tiến hành các nghiên cứu liên quan.

- Sử dụng các hệ thống cơ sở dữ liệu/công nghệ thông tin để tạo ra các báo cáo và hỗ trợ trong công việc phân tích, marketing, chuẩn bị và tạo các chương trình giới thiệu sản phẩm.

- Giám sát và duy trì chất lượng hệ thống cơ sỡ dữ liệu cũng như tính bảo mật khi cập nhật và sử dụng

Kỹ năng chính cần có:

- Khả năng phân tích và tư duy lô gíc

- Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ viết và nói

- Tinh thần làm việc đồng đội và sáng kiến

- Hoàn thành các mục tiêu công việc đúng hạn

- Khả năng tính toán

- Ý thức kinh doanh

- Các kiến thức về hệ thống cơ sở dữ liệu.

Huấn luyện:

- Các công ty lớn đều tổ chức các khóa huấn luyện cho tất cả các vị trí từ hỗ trợ kỹ thuật, tiếp thị, đến quản trị cơ sở dữ liệu hay phát triển phần mềm.

- Chương trình huấn luyện này là rất cần thiết đối với việc lưu trữ hệ thống cơ sở dữ liệu và sử dụng các kỹ năng lập trình như ORACLE and SQL. Sau khi các nhân viên đã có kinh nghiệm làm việc tập thể trong các dự án, họ sẽ có cơ hội thành những người lãnh đạo dự án.

2. Nhân viên kinh doanh

Nhiệm vụ:

- Làm việc cho các nhà sản xuất, công ty dịch vụ phần mềm

- Có trách đối với một sản phẩm hay khách hàng cụ thể

- Giới thiệu sản phẩm đến khách hàng

- Tiếp tục liên hệ với khách hàng và trả lời các thắc mắc

- Liên hệ với các phòng ban về chi tiết của đơn hàng khi ký hợp đồng

- Liên hệ với bộ phận marketing để tìm kiếm khách hàng mới và báo cáo các phản hồi của khách hàng nhằm nâng cao sản phẩm

- Thông tin cho các khách hàng hiện thời về sản phẩm mới

Kỹ năng chính cần có:

- Kỹ năng giao tiếp và trình bày thành thạo

- Khả năng thuyết phục và nhạy bén

- Ý thức và động cơ kinh doanh

- Linh hoạt, năng động và giỏi tính toán

Huấn luyện:

Khi mới bắt đầu, các nhân viên kinh doanh sẽ được tham gia các khóa huấn luyện ngắn giới thiệu về sản phẩm, kỹ năng bán hàng và giao tiếp. Một vài nhân viên sẽ được huấn luyện chuyên sâu về kỹ thuật nếu đối tượng của sản phẩm là các chuyên gia công nghệ thông tin.

3. Quản trị hệ thống

Nhiệm vụ:

- Làm việc cho các công ty quản lý thiết bị, chịu trách nhiệm vận hành các thiết bị công nghệ thông tin cho khách hàng

- Duy trì sự ổn định của hệ thống

- Tuyển dụng, huấn luyện và quản lý đội ngũ làm việc, từ nhân viên nhập dữ liệu đến nhân viên vận hành, lập trình viên…

- Bảo trì và cập nhật hệ thống khi cần thiết

- Thương lượng với khách hàng

- Xem xét số lượng người sử dụng hệ thống, liệu có cần cải tiến để đáp ứng nhu cầu không

Kỹ năng chính:

- Kỹ năng quản lý tổng hợp

- Kỹ năng sáng tạo dựa trên các ý tưởng kinh doanh

- Khả năng chọn lực, thúc đẩy và đánh giá nhân viên làm việc

- Kỹ năng quản lý tài chính và thời gian

Huấn luyện:

Các nhà quản trị hệ thống thường bắt đầu với công việc của một lập trình viên, sau đó là, thiết kế, phân tích hệ thống, quản trị mang và quản lý cấp bộ phận.Họ có thể trở thành những nhà quản lý hay giám đốc công nghệ thông tin.

4. Lập trình viên hệ thống

Nhiệm vụ:

- Làm việc cho bộ phận tin học của các công ty lớn, công ty tư vấn phần mềm, các nhà sản xuất điện tử và phần mềm

- Viết các phần mềm ví dụ như hệ điều hành hay các ngôn ngữ cấp thấp tạo tiền đề cho máy tính triển khai các ứng dụng ở ngôn ngữ cao hơn hay chuyển thông tin đến các thiết bị khác.

- Tùy chỉnh hệ thống để thực hiện các chức năng khác nhau

- Tìm và phát hiện các lỗi trong phần mềm

- Chạy thử các chương trình để kiểm tra khả năng thích ứng khi đưa vào thực tế

- Chuẩn bị các tài liệu mô tả phương thức hoạt động của phần mềm.

Kỹ năng chính:

- Khả năng phân tích và suy luận logic

- Chú ý đến từng chi tiết

- Hoàn thành công việc đúng hạn

- Thành thạo các kỹ năng giao tiếp nói và viết

- Kỹ năng tính toán

- Kiến thức về một hệ thống máy tính cụ thể.

Huấn luyện:

Các công ty lớn thường tổ chức khóa huấn luyện 6 tuần cho các nhân viên trong năm đầu tiên trong ty các công ty nhỏ khuyến khích tinh thần tự học.

5. Kỹ sư phần mềm

Nhiệm vụ:

- Làm việc chủ yếu cho các công ty điện tử và viễn thông; nhiệm vụ cũng tương tự như lập trình viên, tuy nhiên tập trung hơn vào các ứng dụng kỹ thuật và thiết kế

- Sử dụng ngôn ngữ máy tính để viết các chương trình phục vụ cho công việc

- Sử dụng các công cụ hay hệ thống tiền thiết kế để viết ra các phần mềm

- Tích hợp các chương trình được tạo, tìm và phát hiện lỗi

- Chạy thử chương trình

- Hoàn thành các tài liệu mô tả hoạt động của phần mềm

Kỹ năng chính:

- Khả năng phân tích và suy nghĩ logic

- Kỹ năng làm việc tập thể

- Thành thạo các kỹ năng giao tiếp nói và viết

- Chú ý đến từng chi tiết

- Khả năng hoàn thành công việc đúng hạn.

Huấn luyện:

Công việc này đòi hỏi bằng cấp chuyên môn về công nghệ thông tin hay lãnh vực liên quan. Các công ty lớn thường tổ chức khóa huấn luyện 6 tuần cho các nhân viên trong năm đầu tiên trong ty các công ty nhỏ khuyến khích tinh thần tự học.

6. Nhân viên phân tích hệ thống

Nhiệm vụ:

- Gặp gỡ trưởng dự án và khách hàng để thảo luận về dự án

- Thảo luận dự án chi tiết với nhân viên của khách hàng và thiết lập tính khả thi của dự án

- Chuẩn bị các lưu đồ hệ thống, quyết định phần có thể được tin học hóa trong hệ thống

- Đánh giá các phần cứng được yêu cầu khi triển khai hệ thống (tốc độ, chi phí, dung lượng bộ nhớ…)

- Liên lạc với các lập trình viên, phân công công việc và giám sát quá trình sản xuất phần mềm

- Xem xét để thay đổi nếu hệ thống khi chạy thử không đáp ứng được yêu cầu

- Có thể phân tích hệ thống kinh doanh và cân nhắc các biện pháp rút giảm chi phí

Kỹ năng chính:

- Khả năng phân tích và giải quyết vấn đề

- Kỹ năng giao tiếp thành thạo (đặc biệt với khách hàng)

- Thành thạo các kỹ năng giao tiếp nói và viết

- Ý thức kinh doanh và quản lý thời gian

Huấn luyện:

Một số công ty tuyển dụng các sinh viên đã được huấn luyện về phân tích hệ thống trong quá trình học đại học. Hầu hết các nhân viên đều bắt đầu ở vị trí lập trình viên ->lập trình viên phân tích -> nhân viên phân tích hệ thống.

7. Chuyên viên hỗ trợ kỹ thuật / Người sử dụng cuối cùng

Nhiệm vụ:

- Làm việc cho các nhà cung cấp phần mềm và phần cứng tại văn phòng của người sử dụng cuối cùng

- Cung cấp các hỗ trợ kỹ thuật cho khách hàng/người sử dụng hiện thời

- Ghi nhận các cuộc gọi và các vấn đề trục trặc xảy ra

- Liên hệ với các bộ phận cần thiết để giải quyết vấn đề

- Tổng kết các sản phẩm và thủ tục

- Lập kế hoạch cải tiến

- Cập nhật quá trình phát triển sản phẩm mới và khuyến khích khách hàng nâng cấp sản phẩm

Kỹ năng chính:

- Khả năng lắng nghe

- Khả năng phân tích và giải quyết vấn đề

- Khả năng ngoại giao

- Kỹ năng nói và viết thành tạo

- Linh hoạt

Huấn luyện:

Các nhân viên mới sẽ được huấn luyện về đặc tính kỹ thuật của sản phẩm và cách thức phục vụ khách hàng. Đối với các công ty lớn, khóa học được làm phong phú hơn bằng cách giảng dạy về phương thức phát triển và cung ứng sản phẩm.

8. Thiết kế web/dịch vụ Internet

Nhiệm vụ:

- Làm việc cho các nhà sản xuất phần mềm, công ty tư vấn thiết kế web hay các công ty lớn

- Tổng kết các lựa chọn và yêu cầu của khách hàng về website

- Thiết kế và tạo các trang web, liên kết

- Thử nghiệm thiết kế

- Cài đặt trực tuyến phiên bản cuối cùng và hỗ trợ kỹ thuật cho khách hàng

- Cập nhật các tiến bộ mới nhất trong lãnh vực thiết kế web

- Đề ra các kế hoạch cải tiến

Kỹ năng chính:

- Kỹ năng phân tích và giải quyết vấn đề

- Kiến thức về các hệ thống và ngôn ngữ lập trình liên quan, khả năng học hỏi

- Kỹ năng nói và viết

- Kỹ năng tưởng tượng và trình bày

- Kỹ năng quản lý thời gian

- Kỹ năng làm việc tập thể

Huấn luyện:

Các công ty lớn thường tổ chức khóa huấn luyện kỹ thuật cho nhân viên, trang bị các kỹ năng nền tảng. Các công ty nhỏ, ngược lại đòi hỏi nhân viên tự học hỏi các kiến thức về một số ngôn ngữ lập trình như Java, Visual Basis thông qua quá trình làm việc.

Theo HRVietnam/Tech-centric

Lời khuyên cho “dân IT” – Khi tìm việc

Dành cho những bạn sắp ra trường
1/ Bằng cấp và bảng điểm không phải là yếu tố quyết định. Nhà tuyển dụng (NTD) có các chuyên gia giỏi của lĩnh vực bạn có bằng cấp, nếu bạn kém cỏi thì chỉ 5 giây họ sẽ quay ra tò mò làm sao bạn lại có được chứng chỉ này.

Quy tắc số 1: phải trau dồi kiến thức để có bản lĩnh thực chất, có khả năng đáp ứng yêu cầu công việc trong thực tế, bằng cấp chỉ là yếu tố phụ.

2/ Tìm hiểu rõ nhà tuyển dụng cần gì ở bạn? Nói vui một chút, là bạn “có hoặc sẽ có” khả năng gì mà họ có thể “lợi dụng”. NTD sẽ tìm cách hỏi bạn nhưng kiến thức và kỹ năng mà họ cần bạn có. Nếu bạn có thì trả lời là có, nếu bạn chưa có kiến thức đó, hãy cho NTD thấy bạn đã hiểu nguyên lý của vấn đề, chỉ cần tập trung đầu tư thời gian, bạn sẽ trở thành người giỏi.

Quy tắc số 2: lấy khả năng tiếp cận nhanh kiến thức mà NTD cần để khắc phục sự khiếm khuyết kiến thức hiện tại của mình.

Ví dụ: NTD yêu cầu bạn trình bày về một hệ điều hành X mà bạn chưa sử dụng nó bao giờ (hoặc mới chỉ nghe loáng thoáng), bạn hãy bình tĩnh nói họ của HĐH X đó (thuộc họ Unix hay Windows), nói về vài nhận xét của bạn về nó. Bạn hãy tự tin nói cho NTD biết là bạn sẽ mất bao lâu để có thể làm việc với hệ điều hành X như họ yêu cầu (bởi ước lượng chính xác thời gian tiếp cận công nghệ cũng là một tiêu chí để đánh giá ứng viên của các NTD trong lĩnh vực IT).

3/ Tỉnh táo trước những câu hỏi lạ! Khi gặp những câu hỏi lạ không liên quan đến kỹ thuật hãy dành một chút thời gian tìm hiểu mục đích của câu hỏi trước khi trả lời. Bạn có thể yêu cầu NTD cho bạn 1 phút để suy nghĩ hoặc tìm kế hoãn binh để đoán ra ý đồ của NTD.

Quy tắc số 3: Đừng vội vàng trả lời ngay những câu hỏi lạ.

Ví dụ: NTD hỏi bạn là nếu đang đi một con thuyền, trên thuyền có một tảng đá và bạn vứt tảng đá đó xuống hồ. Hỏi: nước trong hồ dâng lên hay hạ xuống?. Xin chú ý, NTD không quan tâm câu trả lời là dâng lên hay hạ xuống, mà họ chỉ muốn kiểm tra khả năng tìm hiểu các yêu cầu để giải quyết vấn đề của bạn. Một ứng viên tốt sẽ hỏi lại rất nhiều câu hỏi (hỏi càng hay càng được đánh giá cao) như: hồ có to không? tảng đá có to không? nước trong hồ là mặn hay ngọt… trước khi đưa ra kết luận.

4/ Khả năng nghiên cứu bằng tiếng Anh! Lĩnh vực IT rất cần khả năng này, ít nhất bạn phải có khả năng đọc hiểu tài liệu kỹ thuật tiếng Anh. Hãy nói thẳng với NTD về khả năng tiếng Anh của bạn (nếu bạn không nghe/nói được, điều này ít quan trọng hơn đọc/hiểu).

Quy tắc số 4: bạn phải là người có thể nghiên cứu tốt bằng tài liệu tiếng Anh

5/ Tự tin có cơ sở! Đừng ngại “sửa lưng” NTD, nếu bạn nắm rõ vấn đề hãy mạnh dạn tương tác với NTD. Những NTD cởi mở sẽ rất thích các ứng viên có quan điểm mạnh, tư tin và vững vàng trong trình bày! (Rất cần thiết nhưng không nên lạm dụng một cách thái quá sẽ “hiệu quả ngược”.)
Quy tắc số 5: hãy khác biệt và tự tin.

Ví dụ: bạn không cần đợi đến đợt phỏng vấn mới nộp hồ sơ, hãy mạnh dạn tương tác và đề xuất trực tiếp với NTD, bạn sẽ nhận được những kết quả hết sức thú vị.

6/ Hồ sơ xin việc rõ ràng và sáng sủa (sự cẩu thả trong chuẩn bị hồ sơ tạo ấn tượng rất xấu vì làm giảm bớt sự tin cậy của người tuyển dụng). Đặc biệt phần CV (tóm tắt thông tin cá nhân) cần làm rõ những khả năng, kinh nghiệm và định hướng lĩnh vực đang quan tâm và dự kiến kế hoạch để đạt được mục đích đó.

Nguyên tắc số 6: Hãy rèn luyện tính nghiêm túc, biết lựa chọn hướng đi rõ ràng và thể hiện nó.

7/ Tính thật thà: Trong phỏng vấn, đây là yếu tố rất quan trọng. Việc trả lời lòng vòng hoặc không nhất quán (đặc biệt các câu hỏi liên quan tới các vấn đề kỹ thuật) sẽ gây ấn tượng rất tệ. Những gì chưa rõ hoặc không biết thì cần trả lời ngay là chưa biết hoặc chưa nghiên cứu. Người tuyển dụng đánh giá cao nếu nhận thấy tính thật thà khi trả lời và tính cầu tiến (Ví dụ: Vấn đề này em chưa rõ nhưng có thể có câu trả lời chính xác sau…. thời gian)

Nguyên tắc số 7: Hãy luôn biết mình là ai và học lấy tinh thần cầu tiến

8/ Tính trách nhiệm, cẩn trọng và chủ động trong công việc: Trong thời điểm này, tính trách nhiệm, cẩn trọng được đánh giá cao hơn sự thông mình, nhanh nhạy nhưng không có trách nhiệm làm tới nơi tới chốn 1 công việc. Đặc biệt nếu bạn muốn vào các vị trí quan trọng (ví dụ quản trị mạng, vị trí liên quan tới bảo mật thông tin…)

Nguyên tắc số 8: Trong quá trình tuyển dụng, hãy thể hiện mình là người quyết đoán nhưng có trách nhiệm.

9/ Tính sáng tạo và khả năng hòa đồng nhanh chóng với môi trường mới: Nếu bạn có tố chất này thì sẽ được cộng điểm tương đối.

Nguyên tắc số 9: Khi tuyển dụng, hãy ăn nói tự nhiên một cách hợp lý, thân thiện và dí dỏm.

10/ Kinh nghiệm thực tế: được đánh giá thông qua các đề tài nghiên cứu khoa học, đồ án tốt nghiệp, nơi thực hành, làm tại các công ty trong thời gian sinh viên. Hãy cố gắng thể hiện ra được những gì mình đã từng làm và có liên quan tới nơi mà bạn xin việc. Cũng rất chú ý khi trình bày khả năng của mình, cần toát lên cho người tuyển dụng thấy được sự chắc chắn và rõ ràng đối với các thông tin bạn đưa ra.

Ví dụ: Trình bày một cách tổng quan về chính đồ án tốt nghiệp bạn đã làm. Cách làm tưởng chừng đơn giản nhưng sẽ khiến NTD đánh giá được nhiều về bạn.

Nguyên tắc số 10: Hãy chuẩn bị cho con đường của bạn bằng những thực nghiệm, nghiên cứu thực tế ngay từ lúc bạn còn trên ghế nhà trường và phát xuất ý tưởng.

Trên đây là một vài lời khuyên của một số các nhà tuyển dụng lớn về nhân lực IT ở Việt Nam và các chuyên gia. Chúng tôi cũng thu thập ý kiến của một số cá nhân từng có nhiều kinh nghiệm trong quá trình “bị” phỏng vấn tuyển dụng. Đúc kết lại, tất cả mọi người đều có chung một nhấn mạnh: Lời khuyên quan trọng nhất là hãy chuẩn bị cho mình một bản lĩnh vững vàng + niềm đam mê, bởi IT là một lĩnh vực đầy thử thách!

10 lời khuyên này được tổng hợp lại từ ý kiến của một số nhà tuyển dụng, đại diện cho rất nhiều nhà tuyển dụng của VN và thế giới. Do vậy, không hẳn đó đã là những lời khuyên đúng đắn tuyệt đối nhất. Song chúng tôi hy vọng, những lời khuyên này sẽ giúp các bạn trẻ ít nhiều trong một hoàn cảnh cụ thể nào đó.

Theo Vietnamnet